Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HS-ST

Ngày: 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N – TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thái.

Bà Trịnh Thị Hồng Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Xuân Sơn - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Lê Muộn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận và Điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

LÊ VĂN L, sinh năm: 1998 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã D, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: Không biết chữ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L (Chết) và bà Hồ Thị Kim Th; chưa có vợ, con; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2023/HS-ST, ngày 12/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 01 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2023, chưa xóa án tích; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/3/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 10/3/2024 Lê Văn L cùng Võ Hùng L1, trú tại: Thôn L, xã D, huyện N, tỉnh Ninh Thuận đi uống bia cùng nhau tại thôn V, xã P, huyện N, trên đường đi về từ thôn V về xã C, L1 rủ L sử dụng ma túy đá và đưa cho L 01 ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu chứa ma túy đá. L1 chở L đến khu vực nhà nghỉ M N thuộc thôn S, xã C, huyện N, tỉnh Ninh Thuận thì L xuống xe, L1 đi mua nước để cả hai thuê phòng nghỉ và sử dụng ma túy đá. Lúc 19 giờ 20 phút cùng ngày, Công an huyện N phối hợp với Công an xã C tuần tra phát hiện Lê Văn L có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra và phát hiện L tràng trữ trên người một ống hút màu trắng đường kính 0,7cm, kích thước (04 x 01)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá). Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Lê Văn L, dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại Bản kết luận số: 06/KL-KTHS, ngày 13/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận: “Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2743g (không phẩy hai bảy bốn ba gam)”.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKSTN ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, bị cáo biết hành vi của mình là sai trái vi phạm pháp luật nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Ngày 10/3/2024 tại thôn S, xã C, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bị cáo Lê Văn L bị Công an huyện N phối hợp với Công an xã C, huyện N bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 0,2743 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng (Tại Kết luận giám định số: 06/KL-KTHS ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận).

Xét thấy hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; bị cáo đã bị kết án về tội “mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm nên Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Qua xem xét hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay trên địa bàn huyện N, tỉnh Ninh Thuận thường xuyên xảy ra các tội phạm về ma tuý, nhằm đảm bảo tình hình an ninh trật tự tại địa phương và tuyên truyền pháp luật nên phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm đối với loại tội phạm này. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo Lê Văn L ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung là phù hợp với quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo Kết luận số 86/KL-KTHS ngày 13/3/2024 ngày 13/3/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận là chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1999g (không phẩy một chín chín gam) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (được niêm phong trong phong bì giấy có chữ ký của Nguyễn Nghi A, Trịnh Đình Q, Phạm Văn T, Nguyễn Duy Th, đóng dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận) là phù hợp với quy định tại Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành trả lại cho bị cáo Lê Văn L 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS màu trắng số IMEI: 352978090034530 gắn SIM số 0867.108.248. Vì qua kiểm tra dữ liệu trên điện thoại chỉ liên lạc cá nhân, không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại cho bị cáo L điện thoại trên là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10/3/2024.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định kèm theo Kết luận số 86/KL-KTHS ngày 13/3/2024 ngày 13/3/2024 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận là chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,1999g (không phẩy một chín chín gam) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định (được niêm phong trong phong bì giấy có chữ ký của Nguyễn Nghi A, Trịnh Đình Q, Phạm Văn T, Nguyễn Duy Th, đóng dấu tròn của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận) (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07/6/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện N;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện N;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện N;
  • - CC T.H.A dân sự ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, tập bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 25/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Lê Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10/3/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger