Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 25/2024/HS-PT

Ngày 20 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tân

Các Thẩm phán:

Ông Trần Minh Tấn

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Duy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Triệu Ngọc Nhi, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLPT-HS, ngày 02/4/2024 đối với bị cáo Danh Thành L và đồng phạm, do bị cáo Danh Thành L và D tiền có kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST, ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Danh Thành L, sinh ngày 28/02/2004 tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Tài xế (hiện đang nhập tu tại chùa Đ3, ấp K, xã L, huyện H, tỉnh Bạc Liêu); trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh P (đã chết) và bà Cao Thị H, sinh năm 1977; anh chị em ruột gồm có 02 người, người lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất là bị cáo; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/10/2023 đến nay. (Có mặt)
  2. Họ và tên: Danh Tiền, sinh ngày 01/01/1988, tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh L1, sinh năm 1954 và bà Thị Đ, sinh năm 1958; có vợ là chị Quách Kim N, sinh năm 1986 và có 03 người con, người lớn nhất sinh 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023; anh chị em ruột gồm 05 người, người lớn nhất sinh năm 1979, người nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần, ngày 30/5/2023 bị Công an huyện H, tỉnh Bạc Liêu quyết định xử phạt vi phạm hành

2

chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “cố ý gây thương tích” cho người khác, đã chấp hành xong ngày 21/02/2024.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/10/2023 đến nay. (có mặt)

Bị cáo không kháng cáo:

  1. Họ và tên: Trịnh Thế H1 (tên gọi khác Trịnh Thế H2), sinh ngày 27/7/1999 tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp B, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Cẩm H3, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; anh chị em ruột gồm 01 người; tiền án: 01 lần: Ngày 29/12/2022 bị Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2023. Chưa được xóa án tích; tiền sự: Không.
  2. Họ và tên: Phan Văn L2, sinh ngày 01/01/1992 tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Mười H4, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1970; anh chị em ruột gồm 02 người, người lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án: 01 lần, ngày 05/7/2018 bị Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/6/2022. Chưa được xóa án tích; tiền sự: Không.
  3. Họ và tên: Phạm Tấn Đ1, sinh ngày 01/01/1994 tại huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp X, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn N1 (đã chết) và bà Đồng Thị L3, sinh năm 1965; Vợ là chị Nguyễn Cẩm T1, sinh năm 2000; Anh chị em ruột gồm 04 người, người lớn nhất sinh năm 1987, người nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 07/5/2014, TAND thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội vận chuyển trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính ngày 06/02/2016, chấp hành án xong ngày 21/10/2014 đã xóa án tích.

Bị hại không kháng cáo: Anh Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu

(Bị cáo H1, L2, Đ1 và bị hại không kháng cáo, không liên quan kháng cáo, nên Toà án không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 20/8/2023, Trịnh Thế H1, Phan Văn L2 và Danh T2 nhậu tại nhà T2 (nhà T2 thuê để làm nơi vựa sò). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì nghỉ

3

nhậu, T2 cùng Danh Thành L đi ngủ trước. Khoảng 01 giờ, ngày 21/8/2023, H1 rủ L2 đi trộm cắp tài sản, L2 đồng ý, H1 điều khiển xe máy YAMAHA, Exiter biển số 94F1 – 342.86 (do buổi tối H1 mượn xe của L) đến nhà kho của Nguyễn Tuấn K tại ấp S, xã V, huyện H để lấy trộm tài sản. Khi đến nơi L2 ở ngoài xe, còn H1 vào bên trong nhà kho lấy trộm 01 máy cắt kim loại và 01 máy phá (đục) bê tông, H1 lấy mang ra xe. Sau đó, H1 chở L2 cùng 02 cái máy vừa lấy trộm về đến khu vực đất trống tại ấp N, thị trấn N để cất giấu rồi cùng về nhà T2 ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 21/8/2023, Phạm Tấn Đ1 đến nhà T2 thì gặp H1 và L2, H1 nói với Đ1 có 02 cái máy đem đi bán để lấy tiền tiêu xài. Sau đó, H1 dẫn Đ1 đi đến vị trí cất giấu lấy 02 cái máy để Đ1 đem đi bán. Lúc này, H1 nói rõ với Đ1 về nguồn gốc tài sản là do H1 và L2 lấy trộm mà có. Sau đó, Đ1 đem 02 cái máy đến bán cho Huỳnh Nhật T3 tại ấp N, thị trấn N với số tiền 800.000 đồng khi mua T3 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, nhận tiền xong Đ1 tiêu xài cá nhân không đưa lại tiền cho H1.

Đến tối ngày 22/8/2023, H1, L, T2 và L2 cùng nhậu tại nhà T2, nhậu được một lúc Tiền lên giường ngủ trước còn L, H1 và L2 tiếp tục nhậu đến khoảng 22 giờ thì nghỉ nhậu, L2 lên võng nằm, còn L và H1 lên nằm cùng một võng nói chuyện qua lại với nhau, H1 rủ L2 đi đến nhà kho ấp S để tiếp tục lấy trộm tài sản nhưng Lời do dự không trả lời nên H1 rủ L thì L đồng ý, lúc này L2 vẫn còn thức biết L và H1 sẽ đi lấy trộm tài sản chỗ cũ nhưng lúc này chỉ có 01 chiếc xe của L mà có đến 03 người nên L2 phải ở lại nhà chờ L và H1 lấy trộm tài sản về để cùng đi bán. Sau đó, H1 điều khiển xe máy YAMAHA, Exiter biển số 94F1 – 342.86 chở L đi. Khi đến nơi, L ở ngoài xe còn H1 đi vào bên trong lấy trộm 04 cuộn dây kẽm chưa qua sử dụng mỗi cuộn 50 kg và 01 máy phá (đục) bê tông, do máy phá bê tông nặng nên H1 và L bỏ lại trong đám cỏ, H1 điều khiển xe chở L cùng 04 cuộn dây kẽm về để phía trước cửa nhà của Danh T2. Đến khoảng 04 giờ sáng, ngày 23/8/2023 Danh T2 thức dậy kêu Danh T cùng đi Rạch G - Kiên Giang mua sò và nhìn thấy 04 cuộn dây kẽm, T2 hỏi L thì biết tài sản do L cùng H1 lấy trộm. Do sợ người khác phát hiện, T2 kêu L đem 04 cuộn dây kẽm lên xe tải biển số 94C-046.18 của T2 để đi tiêu thụ. Lúc này, L2 thức dậy từ trong nhà đi ra nhìn thấy L đang đem cuộn dây kẽm thứ 2 lên xe, Lời biết đây là tài sản do L và H1 lấy trộm về nên tự lăn 02 cuộn dây kẽm ra xe để cùng L đem lên xe. Sau đó, T2 lái xe chở L, T2 kêu L2 và H1 điều khiển xe của L đi theo phía sau. Sau khi mua sò xong quay về, T2 kêu H1 và L đi tìm chỗ bán 04 cuộn dây kẽm, khi đi đến trước cửa hàng V1 tại khu phố P, tổ C, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang của Lâm Thị Y thì H1 vào hỏi bán 04 cuộn dây kẽm và bà Y đồng ý mua. Một lúc sau, T2 lái ô tô tải đến, T2, L, L2 và H1 đem 04 cuộn dây kẽm vào bán được số tiền

4

1.500.000 đồng, T2 nhận tiền và đưa lại cho H1. Trong lúc, qua phà X, H1 trả tiền đò hết 120.000 đồng, số tiền còn lại H1 lấy 600.000 đồng, chia L 400.000 đồng, còn lại khoảng 380.000 đồng H1 đưa hết cho T2, T2 đưa Lời 100.000 đồng, còn lại Tiền giữ.

Qua công tác khám nghiệm hiện trường đã tạm giữ tại đám cỏ ngoài khu vực nhà kho 01 máy phá bê tông nhưng không rõ nhãn hiệu, máy đã qua sử dụng. Ngày 08/9/2023, bà Lâm Thị Y giao nộp 04 cuộn dây kẽm, loại dây kẽm buộc sắt mỗi cuộn 50 kg chưa qua sử dụng. Ngày 25/8/2023, Huỳnh Nhật T3 giao nộp 01 máy cắt hiệu KEN có tay cầm màu đỏ nhám đã qua sử dụng, 01 máy phá (đục) bê tông hiệu MRXPRO có tay cầm màu đen đã qua sử dụng.

Theo kết luận định giá tài sản số 21/BKL-HĐĐGTS, ngày 30/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:

  • 01 máy cắt sắt, có tay cầm màu đỏ, hiệu KEN, đã qua sử dụng, có giá là 1.000.000 đồng.
  • 01 máy phá bê tông (đục bê tông), hiệu MRXPRO, đã qua sử dụng, có giá là 1.000.000 đồng.
  • 01 máy phá bê tông (đục bê tông), máy đã cũ không xác định được nhãn hiệu, đã qua sử dụng, có giá là 1.000.000 đồng.
  • 01 cuộn dây kẽm, loại dây kẽm buộc sắt, mỗi cuộn có trọng lượng 50 kg chưa qua sử dụng, có giá là 1.000.000 đồng. Vậy 04 cuộn dây kẽm buộc sắt, mỗi cuộn có trọng lượng 50 kg chưa qua sử dụng có giá là: 4 cuộn x 1.000.000 đồng = 4.000.000 đồng.

Tại bản án 04/2024/HS-ST, ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thế H1, Phan Văn L2 và Danh Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Các bị cáo Danh T2 và Phạm Thành Đ2 phạm tội ““Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 58, khoản 1 Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trịnh Thế H1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 25/8/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 58, khoản 1 Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phan Văn L2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 38, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Danh Thành L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Phạm Tấn Đ1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 29/11/2023.

5

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Danh T2 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên tịch nộp ngân sách Nhà nước tiền thu lợi bất chính của các bị cáo, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 28/02/2024 và ngày 08/3/2024, bị cáo Danh Thành L và Danh T2 kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa các bị cáo Danh Thành L và Danh T2 vẫn giữ nguyên kháng cáo, không nộp thêm tài liệu chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Về thời hạn kháng cáo và thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng hình thức theo quy định của pháp luật.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân đã xét xử các bị cáo Danh Thành L tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và bị cáo D Tiền tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không thêm tình tiết mới. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, các bị cáo L và T2 không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Danh Thành L và Danh T2 nộp trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án: Quá trình xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Danh Thành L và Danh T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo L, T2 phù hợp với lời khai của các đồng phạm và lời khai của bị hại, đồng thời phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ ngày 21/8/2023 và khoảng 23 giờ ngày 22/8/2023, tại ấp S, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, Danh T cùng các đồng phạm có hành vi lén lúc lấy trộm tài sản của anh Nguyễn Tuấn K

6

với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 5.000.000 đồng. Bị cáo Danh T2 mặc dù không có hứa hẹn trước, nhưng có hành vi giúp sức tiêu thụ các tài sản do L cùng đồng phạm trộm cắp được. Hành vi nêu trên của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo D Tiền đủ yếu tố cấu thành tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST, ngày 22/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu tuyên xử các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của của bị cáo L và T2, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ý thức xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo L là người trực tiếp cùng các đồng phạm thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của bị hại nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt. Đối với bị cáo Danh T2 có nhân thân xấu, đã có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt vi phạm hành chính về tội “Cố ý gây thương tích” nên bị cáo T2 không được hưởng án treo. Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo theo quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm 04/2024/HS-ST, ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

[4] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là có căn chấp nhận.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Danh Thành L và Danh T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

[6] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 04/2024/HS-ST, ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu không kháng cáo, không bị kháng nghị được giữ nguyên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Danh Thành L và Danh T2.

    Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST, ngày 22/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

  2. Tuyên bố bị cáo Danh Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Danh T2 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

7

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh Thành L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh T2 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Danh Thành L và Danh T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND CC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh Bạc Liêu;
  • - TAND huyện Hồng Dân;
  • - VKSND huyện Hồng Dân;
  • - CQĐT huyện Hồng Dân;
  • - Chi cục THADS huyện Hồng Dân;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu: HS, THS, THCTP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HS-PT ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 25/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger