TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HS-PT Ngày 15/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Trọng.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Nguyễn Duy Phượng.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Như Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Trương Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 41/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đối với:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 07/7/2006 tại xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; con ông Nguyễn Hữu N và bà Đinh Thị M; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1981 là bố đẻ; Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Đức L, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; Có mặt.
Bị hại kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 22/12/2009; Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Chí T, sinh năm 1985 là bố đẻ; Đều có địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Có mặt.
- Anh Trần Văn T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Đ, thôn A, xã L, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thị Thu H và Nguyễn Ngọc Quỳnh A, Phạm Thị Phương T2 quen biết chơi với nhau từ lâu. H và Quỳnh A thường xuyên thấy T2 sử dụng xe máy điện biển số 15MĐ1-561.23 màu đen, trên vỏ xe dán tem chữ Vespa của mẹ đẻ là chị Nguyễn Thị L1 cho mượn đi lại nên ngày 06/10/2023, bị cáo và Quỳnh A đã nảy sinh ý định cùng nhau trộm cắp chiếc xe máy điện bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Khoảng 20 giờ ngày 07/10/2023, Quỳnh A điều khiển chiếc xe đạp điện màu đen, dán chữ 133s, không gắn biển số của bố đẻ là anh Nguyễn Chí T chở H đến nhà trọ của chị Nguyễn Thị L1 ở thôn P, xã N, huyện T với Phương T2. Tại đây, Quỳnh A phát hiện trên giường của T2 có để chìa khóa xe máy điện trên nên cầm chìa khóa cất giấu vào cốp xe đạp điện của mình đang dựng ở ngoài sân. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Quỳnh A sử dụng điện thoại Iphone Xs, màu vàng nhắn tin cho bị cáo H qua ứng dụng Messenger thống nhất sáng ngày hôm sau cùng đi đến nhà chị L1 trộm cắp chiếc xe máy điện. Khoảng 07 giờ ngày 08/10/2023, Quỳnh A điều khiển xe đạp điện chở H đến nhà chị L1, khi đến nơi thấy cổng khóa, xe máy điện biển số 15MĐ1-561.23 đang dựng ở sân, đầu xe hướng vào cửa nhà, trên bậc hiên cạnh đó có một chùm chìa khóa cổng. Quan sát không thấy có ai xung quanh, H đứng bên ngoài cảnh giới còn Quỳnh A trèo qua tường vào sân nhà cầm chùm chìa khóa ở bậc hiên mở cổng cho H vào. Để không bị phát hiện, Quỳnh A cởi chiếc áo chống nắng hoa văn màu nâu đang mặc ra đưa cho H mặc, còn Quỳnh A lấy chiếc áo chống nắng màu nâu đen loại dài thân có mũ và 01 nón lá màu trắng của chị L1 treo trên tường mặc. Sau đó, Quỳnh A lấy chìa khóa hôm qua giấu trong cốp xe mở xe máy điện biển số 15MĐ1-561.23 rồi điều khiển xe đi ra ngoài đường, H điều khiển xe đạp điện đi phía sau.
Khoảng 10 giờ cùng ngày, H và Quỳnh A đi đến cửa hàng mua bán xe máy điện của anh Trần Văn T1 ở xã L, thành phố H. Tại đây, Quỳnh A hỏi anh T1 "Chú có mua xe máy điện không", anh T1 trả lời là "có". Anh T1 trả giá 3.600.000 đồng thì Quỳnh A nhìn sang H, thấy H gật đầu đồng ý, anh T1 tiếp tục hỏi "có mang giấy tờ xe không" thì Quỳnh A bảo "giấy tờ cháu quên ở nhà, cháu mang lên sau". Anh T1 đưa số tiền 3.600.000 đồng cho Quỳnh A, Quỳnh A đưa lại số tiền trên cho H cầm và điều khiển xe đạp điện chở H đi về. Trên đường về, Quỳnh A đã vứt chiếc áo chống nắng và nón lá vừa trộm cắp ở bãi rác. Số tiền bán xe được 3.600.000 đồng, H và Quỳnh A đã tiêu xài cá nhân hết.
Ngày 08/10/2023, chị L1 làm đơn trình báo với Công an xã N, huyện T với nội dung về việc bị kẻ gian trộm cắp xe máy điện. Đến ngày 13/10/2023, H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tự thú và giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng. Anh Trần Văn T1 giao nộp 01 xe máy điện biển số 15MĐ1-561.23 và Nguyễn Ngọc Q Anh giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs màu vàng, 01 áo chống nắng hoa văn màu nâu cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T Chiếc điện thoại di động mà H sử dụng liên lạc với Quỳnh A để thực hiện tội phạm, do H đã làm mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Chiếc áo chống nắng màu nâu đen và nón lá Quỳnh A đã vứt đi, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.
Tại Kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 23/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị của 01 xe máy điện, nhãn hiệu LTP BIKE, màu sơn đen, biển kiểm soát 15M1-561.23, số khung EKUMKAW01677, số máy 0WC190612268 có giá trị tại thời điểm định giá ngày 08/10/2023 là 5.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS ngày 16/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị của 01 áo chống nắng màu nâu đen, loại áo dài thân có mũ, đã bị rách (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 08/10/2023 là 0 đồng; Giá trị của 01 nón lá màu trắng, đã bị rách hỏng (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 08/10/2023 là 0 đồng.
Đối với anh Trần Văn T1, quá trình điều tra xác định khi mua xe anh T1 không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Ngọc Quỳnh A, sinh ngày 22/9/2009 tính đến ngày thực thực hiện hành vi phạm tội 08/10/2023 mới 13 tuổi 09 tháng 16 ngày, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã giao cho gia đình giáo dục quản lý.
Đối với 01 xe điện màu đỏ đen không gắn biển số dán tem nhãn 133, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Chí T bố đẻ Nguyễn Ngọc Quỳnh A, anh T không biết việc con gái sử dụng chiếc xe đạp trên vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, số Imei 1:356168095327867; số Imel 2: 351039490451765, số M: 35103949032365 là tài sản của cháu Nguyễn Minh T3, sinh năm 2006 ở xã T, huyện Â, tỉnh Hưng Yên là bạn học cùng lớp cho H mượn điện thoại để trích xuất nội dung, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho cháu T3.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thu H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 01/CT-VKSTL ngày 19/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm được tính từ ngày tuyên án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/3/2024, bị hại Nguyễn Thị L1 kháng cáo với lý do Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo nhẹ và một số tình tiết trong bàn án chưa đúng với sự thật.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tăng hình phạt và không cho bị cáo hưởng án treo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử làm rõ một số tình tiết trong bản án sơ thẩm chưa đúng sự thật, bị hại khẳng định chiếc áo chống nắng, chiếc nón lá là do bị cáo lấy để mặc và bị cáo không phải tự thú, mà là đầu thú.
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và khẳng định Quỳnh A lấy áo chống nắng và nón của chị H để mặc, bị cáo tự đến Công an huyện T để trình báo sự việc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị L1, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm: Nhất trí với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị L1 trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu H khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm; phù hợp khách quan với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, phù hợp khách quan với vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 07 giờ ngày 08/10/2023, tại nhà trọ của chị Nguyễn Thị L1 ở thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên, bị cáo Nguyễn Thị Thu H và cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh A đã lén lút trộm cắp của chị L1 01 chiếc xe máy điện màu đen, biểm số 15MĐ1-561.23; 01 áo chống nắng màu nâu đen, loại áo dài thân có mũ và 01 nón lá, có tổng giá trị là 5.000.000 đồng.
Bởi hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị hại không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tự thú, đề nghị tăng hình phạt và không cho bị cáo hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm, xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiển để tiêu dùng cho bản thân nên vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; áp dụng cơ bản chính xác các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét nhân thân của bị cáo như: Bị cáo có nhân tốt, ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo; tại cấp sơ thẩm bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại, người liên quan; phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có đơn đề nghị cải tạo tại địa phương được chính quyền xã xác nhận nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm cũng áp dụng đúng nguyên tắc xử lý người chưa đủ 18 tuổi phạm tội đối với H.
Đối với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tự thú được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là chưa chính xác, bởi lẽ bị hại đã phát hiện sự việc bị mất trộm và trình báo cơ quan có thẩm quyền, sau đó bị cáo mới đến cơ quan Công an huyện T để trình báo sự việc, nên H chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đầu thú. Kháng cáo về nội dung này của bị hại được chấp nhận. Tuy nhiên, mức hình phạt 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, cần được giữ nguyên.
Đối với ý kiến của bị hại cho rằng bị cáo lấy áo chống nắng và nón của chị để mặc vào người là không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ tại phiên tòa phúc thẩm cả bị cáo và cháu Quỳnh A đều khẳng định cháu Quỳnh A là người làm việc này.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị hại được chấp nhận một phần nên bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị L1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 05 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm được tính từ ngày tuyên án 06/3/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu H cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo H.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị hại Nguyễn Thị L1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Tuấn Trọng |
Bản án số 25/2024/HS-PT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 25/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ THU H Phạm tội Trộm cắp tài sản
