TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HNGĐ-ST
Ngày 20-5-2024
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tô Thị Lành và ông Nguyễn Xuân Hoà.
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Quang Ân - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 914/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ 4, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bà M có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Thanh D, sinh năm 1978; địa chỉ: Hẻm 54 đường V, tổ 1, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Ông D vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà và ông Trần Thanh D tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai ngày 31-7-2006.
Trong quá trình chung sống, bà và ông Trần Thanh D thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, quan điểm sống bất đồng, cãi vã, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và không đạt được mục đích hôn nhân. Từ tháng 12 năm 2022 đến nay, bà và ông Trần Thanh D không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến ai và bỏ mặc nhau. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh D.
Bà và ông Trần Thanh D có hai con chung là cháu Trần Thanh T, sinh ngày 31-7-2007 và cháu Trần Nguyễn Uyên N, sinh ngày 12-8-2014.
Bà có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng hai con chung là cháu Trần Thanh T và cháu Trần Nguyễn Uyên N. Bà không yêu cầu ông Trần Thanh D phải cấp dưỡng cho con.
Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và thanh toán nghĩa vụ chung.
- Toà án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục để triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là ông Trần Thanh D. Tuy nhiên, ông Trần Thanh D không đến Toà án để tham gia tố tụng. Do vậy, ông Trần Thanh D không có lời khai tại hồ sơ vụ án và cũng không có lời khai tại phiên toà.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
- Bà Nguyễn Thị M ly hôn ông Trần Thanh D.
- Giao cháu Trần Thanh T và cháu Trần Nguyễn Uyên N cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai giải quyết ly hôn với ông Trần Thanh D và tranh chấp về nuôi con; ông Trần Thanh D có nơi cư trú tại thành phố P nên Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thủ tục lựa chọn hòa giải và lựa chọn Hòa giải viên: Ngày 13-12-2023, người khởi kiện có văn bản đề nghị về việc không hoà giải, đối thoại tại Toà án. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn là ông Trần Thanh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để ông Trần Thanh D tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Trần Thanh D đăng ký kết hôn ngày 31-7-2006 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, bà Nguyễn Thị M và ông Trần Thanh D phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông bà không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó. Mặc dù, đã được hai bên gia đình nhắc nhở, hòa giải nhiều lần nhưng ông bà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Vì vậy, bà Nguyễn Thị M yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Thanh D.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Thanh D đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các thủ tục để ông Trần Thanh D tham gia tố tụng, trình bày ý kiến của mình về việc bà Nguyễn Thị M xin ly hôn nhưng ông Trần Thanh D đều vắng mặt chứng tỏ ông không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân của vợ chồng hay không.
Chính vì vậy, đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân của họ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, quan hệ vợ chồng đã thực sự không thể hàn gắn được nữa, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được nên yêu cầu của bà Nguyễn Thị M về việc ly hôn ông Trần Thanh D là có căn cứ, được chấp nhận.
- Về con: Bà Nguyễn Thị M và ông Trần Thanh D có hai con chung là cháu Trần Thanh T, sinh ngày 31-7-2007 và cháu Trần Nguyễn Uyên N, sinh ngày 12-8-2014.
Bà Nguyễn Thị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung; tại đơn trình bày ngày 18-12-2023, cháu Trần Thanh T và cháu Trần Nguyễn Uyên N có nguyện vọng được ở với bà Nguyễn Thị M sau khi cha mẹ ly hôn; nguyện vọng của bà Nguyễn Thị M và các cháu là chính đáng và đúng pháp luật. Bà Nguyễn Thị M có đủ khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng các con, đảm bảo được cuộc sống và sự phát triển bình thường về mọi mặt cho các con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Trần Thanh T và cháu Trần Nguyễn Uyên N cho bà Nguyễn Thị M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Bà Nguyễn Thị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Nguyễn Thị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Trần Thanh D đăng ký kết hôn ngày 31-7-2006 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M ly hôn ông Trần Thanh D.
- Về con: Giao cháu Trần Thanh T và cháu Trần Nguyễn Uyên N cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Về án phí:
Bà Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001108 ngày 15-12-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai; bà Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Thị Thanh Huyền |
Bản án số 25/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và tranh chấp về nuôi con
