|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/HNGĐ - ST
Ngày 05/12/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Trần Văn Kiệm
2. Bà Nguyễn Thị Thu Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thuyền là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2024/TLST- HNGĐ, ngày 20 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27 /2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 28/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tường V
Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi
- Bị đơn: Anh Võ Anh T
Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Quỹ tín dụng nhân dân Đ; địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn N, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H, chức vụ: Trưởng Bộ phận tín dụng Q1 (Văn bản ngày 17/7/2024).
+ Ngân hàng C; địa chỉ: Tòa nhà C, khu B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T1, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh N1, chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C, tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (Văn bản ủy quyền số 73000/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019).
Nguyên đơn có mặt; bị đơn có mặt; đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Tường V trình bày:
Chị và anh T tìm hiểu được mấy năm thì được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 24/02/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là luôn bất đồng quan điểm về mọi mặt, không hiểu tính nhau nên thường xuyên cải vả, mâu thuẫn ngày càng nghiêm trọng, sống không có hạnh phúc nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức giải quyết cho chị ly hôn với anh Võ Anh T.
Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Nguyễn Thái S, sinh ngày 19/6/2011; Võ Nguyễn Thái B, sinh ngày 01/10/2013. Khi ly hôn chị mong muốn được nuôi 02 con chung, nhưng vì nguyện vọng của các con nên chị yêu cầu được nuôi con chung tên Võ Nguyễn Thái B; giao con chung tên Võ Nguyễn Thái S cho anh T nuôi dưỡng, vì hiện nay cháu B đang chung sống với chị, cháu S đang chung sống với anh T. Chị và anh T không bên nào phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu giải quyết
Về nợ chung: Chị và anh T có vay tiền để làm nhà ở. Vay Quỹ tín dụng nhân dân Đức P và hiện còn nợ số tiền là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng); nợ Ngân hàng C số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Khi ly hôn chị yêu cầu chị và anh T cùng có trách nhiệm mỗi người trả ½ số nợ trên cho Quỹ tín dụng nhân dân Đức P và Ngân hàng C. Ngoài ra không còn khoản nợ nào khác.
* Bị đơn anh Võ Anh T trình bày: Về quan hệ hôn nhân giữa anh với chị V như chị V trình bày là đúng, anh chị đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 24/02/2009. Anh chị chung sống hạnh phúc và có 02 con chung. Đến năm 2020 thì vợ chồng luôn mâu thuẫn, nguyên nhân là xung khắc về lối sống, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Nay chị V yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Nguyễn Thái S, sinh ngày 19/6/2011; Võ Nguyễn Thái B, sinh ngày 01/10/2013. Hiện nay cháu S đang
sống với anh, còn cháu B đang sống với chị V. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị V cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Hiện nay vợ chồng có nợ Quỹ tín dụng nhân dân Đức Phong số tiền là 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng); nợ Ngân hàng C số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), vay 02 khoản trên để làm nhà ở. Khi ly hôn anh đồng ý anh và chị V mỗi người trả 1/2 số nợ trên cho Quỹ tín dụng nhân dân Đức P và Ngân hàng C.
* Đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng C trình bày: Bà Nguyễn Thị Tường V đã đại diện cho hộ gia đình đứng tên vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện C với tổng số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), trong đó vay 50.000.000đồng để chăn nuôi bò sinh sản và 20.000.000 đồng để xây dựng công trình nước sạch vệ sinh. Hiện nay bà V, ông T ly hôn thì Ngân hàng chính sách xã hội huyện C yêu cầu bà V, ông T phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện C số tiền 70.331.396 đồng. Trong đó: Nợ gốc 70.000.000đồng, nợ lãi 331.396 đồng, tính đến ngày 02/7/2024. Trường hợp bà V, ông T trả nợ không đúng hạn thì yêu cầu tiếp tục trả số tiền lãi theo sổ vay vốn mã KH: 7090957454.
* Đại diện theo ủy quyền Quỹ tín dụng nhân dân Đ1 trình bày: Vào năm 2023 vợ chồng bà Nguyễn Thị Tường V và ông Võ Anh T đã ký kết hợp đồng với Quỹ tín dụng nhân dân xã Đ để vay số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng), mục đích vay vốn làm nhà, thời hạn vay 24 tháng, lãi suất cho vay là 11,50%/năm theo Hợp đồng tín dụng số 009-ĐM/HĐTD- 2023 ngày 07/02/2023 và có thế chấp tại Quỹ tín dụng nhân dân xã Đ, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất CE 451665 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 14/12/2016, thửa đất số 32, tờ bản đồ số 13, địa chỉ tại xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 007-ĐM/HĐTC- 2023 ngày 31/01/2023. Mặc dù chưa đến thời hạn trả nợ nhưng nay bà V, ông T ly hôn nên Qũy tín dụng nhân dân Đức P yêu cầu bà V, ông T cùng có trách nhiệm trả nợ cho Qũy tín dụng nhân dân Đức Phong số tiền 132.376.000 đồng. Trong đó: Nợ gốc 130.000.000đồng, nợ lãi 2.376.000đồng, tính đến ngày 04/12/2024.
Trường hợp bà V, ông T không trả nợ và trả nợ không đầy đủ thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 13, địa chỉ tại xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Tài sản này đã được thế chấp và ký kết với Quỹ tín dụng nhân dân xã Đ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 007-ĐM/HĐTC- 2023 ngày 31/01/2023.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên
đơn, bị đơn, đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Tường V được ly hôn anh Võ Anh T.
+ Về con chung: Giao con chung tên Võ Nguyễn Thái B, sinh ngày 01/10/2013 cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung tên Võ Nguyễn Thái S, sinh ngày 19/6/2011 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
+ Về cấp dưỡng cho con: Chị V, anh T không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+Về tài sản chung: Chị V, anh T không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về nợ chung:
Chị V, anh T cùng có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền 70.000.000đồng nợ gốc và 331.396 đồng nợ lãi.
Chị V, anh T cùng có trách nhiệm trả nợ cho Qũy tín dụng nhân dân Đức Phong số tiền 130.000.000đồng nợ gốc và 2.376.000 đồng nợ lãi.
Ngoài ra, đương sự còn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
[1.1] Tại thời điểm chị Nguyễn Thị Tường V khởi kiện thì anh Võ Anh T đang cư trú tại thôn M, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức thụ lý vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 24/02/2009 tại phường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, giữa chị V và anh T có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau; Chị V, anh T thừa nhận vợ chồng ly thân từ năm 2023 cho đến nay, phần ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau. Chị V yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị V và anh T là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị V yêu cầu ly hôn, anh T đồng ý là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của nguyên đơn và bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án, có căn cứ xác định: Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Anh T có 02 con chung tên Võ Nguyễn Thái S, sinh ngày 19/6/2011 và Võ Nguyễn Thái B, sinh ngày 01/10/2013. Chị V và anh T đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị V, anh T ly thân nhau từ năm 2023 đến nay; khi sống ly thân thì cháu Võ Nguyễn Thái B ở với chị V; cháu Võ Nguyễn Thái S ở với anh T. Theo trình bày của cháu S thì cháu có nguyện vọng được ở với anh T, cháu B có nguyện vọng được ở với chị V.
Do đó, để ổn định cuộc sống và các quyền lợi khác cho cháu B và cháu S cũng như để đáp ứng theo nguyện vọng của cháu B và cháu S. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Võ Nguyễn Thái B cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Võ Nguyễn Thái S cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
[2.3] Về cấp dưỡng cho con:
Chị V, anh T không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung:
Chị V, anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về nợ chung:
[2.5.1] Đối với khoản vay mà chị V, anh T vay Ngân hàng chính sách xã hội số tiền 70.000.000 đồng nợ gốc và nợ lãi là 331.396 đồng.
Căn cứ lời trình bày của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Anh T có vay của Ngân hàng C số tiền 70.000.000đồng; tính đến ngày 02/7/2024 thì anh T và chị V còn nợ Ngân hàng chính sách xã hội với số tiền là 70.331.396 đồng, trong đó: Nợ gốc là 70.000.000đồng; nợ lãi là 331.396 đồng. Chị V, anh T đều thừa nhận đây là khoản nợ chung của vợ chồng nên đồng ý cùng có trách nhiệm trả số tiền trên cho Ngân hàng C. Cụ thể: Anh T và chị V, mỗi người phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền là 35.165.698đồng.
[2.5.2] Đối với khoản vay mà chị V, anh T vay Qũy tín dụng nhân dân xã Đ số tiền 130.000.000 đồng nợ gốc và 2.376.000 đồng nợ lãi
Căn cứ lời trình bày của các bên đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định: Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Anh T và có vay của Q tín dụng nhân dân Đức P số tiền 130.000.000đồng; tính đến ngày 04/12/2024 thì chị V và anh T còn nợ Qũy tín dụng nhân dân Đức P với số tiền là 132.376.000 đồng, trong đó: Nợ gốc là 130.000.000đồng; nợ lãi là 2.376.000 đồng. Chị V, anh T đều thừa nhận đây là khoản nợ chung của vợ chồng nên đồng ý cùng có trách nhiệm trả số tiền trên cho Qũy tín dụng nhân dân Đ. Cụ thể: Chị V, anh T mỗi người phải có nghĩa vụ trả nợ cho Q tín dụng nhân dân Đức Phong tiền là 66.188.000 đồng.
[3] Chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 1.500.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Tường V tự nguyện chịu số tiền 1.500.000 đồng, chị V đã nộp xong.
[4] Về án phí:
Chị Nguyễn Thị Tường V phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Anh Võ Anh T và chị Nguyễn Thị Tường V, mỗi người phải chịu 101.353.698 đồng x 5% = 5.067.684 đồng (làm tròn 5.068.000 đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ.
Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị V đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi sẽ được khấu trừ vào số tiền án phí chị V phải chịu.
Ngân hàng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Qũy tín dụng nhân dân xã Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Quỹ tín dụng nhân dân xã Đ.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tường V
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tường V được ly hôn anh Võ Anh T.
- Về con chung: Giao cháu Võ Nguyễn Thái B, sinh ngày 01/10/2013 cho chị Nguyễn Thị Tường V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Võ Nguyễn Thái S, sinh ngày 19/6/2011 cho anh Võ Anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị V, anh T không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Chị V, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị V, anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung:
- Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Anh T, mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng C số tiền 35.165.698 đồng (Ba mươi lăm triệu một trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 35.000.000đồng (Ba mươi lăm triệu đồng); nợ lãi là 165.698 đồng (Một trăm sáu mươi lăm nghìn sáu trăm chín mươi tám đồng), tính đến ngày 02/7/2024.
- Chị Nguyễn Thị Tường V và anh Võ Anh T, mỗi người phải có nghĩa vụ thanh toán cho Qũy tín dụng nhân dân xã Đ số tiền 66.188.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng); trong đó: Nợ gốc là 65.000.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng). Nợ lãi là 1.188.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi tám nghìn đồng) tính đến ngày 04/12/2024.
Kể từ ngày 03/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng theo sổ vay vốn mã KH: 7090957454.
Kể từ ngày 05/12/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 009-ĐM/HĐTD-2023 ngày 07/02/2023 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp chị V, anh T không thực hiện việc trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ khoản nợ nêu trên cho Qũy tín dụng nhân dân Đ thì Qũy tín dụng nhân dân Đức Phong có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp tại giai đoạn thi hành án để thu hồi nợ cho Q tín dụng nhân dân Đức Phong; tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số 13, diện tích 1074m², địa chỉ thửa đất tại: Thôn M, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 14/12/2016 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 007-ÐM/HĐTC- 2023 ngày 31/01/2023.
Sau khi xử lý tài sản thế chấp nếu không đủ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì
chị V, anh T phải tiếp tục trả nợ cho Qũy tín dụng nhân dân Đức Phong cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
- Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 1.500.000 đồng, chị V tự nguyện chịu số tiền 1.500.000 đồng, chị V đã nộp và đã chi phí xong
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tường V phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và 5.068.000đồng đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghì đồng) đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 19/3/2024 và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001409 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Chị V còn tiếp tục nộp 5.068.000đồng đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
Anh Võ Anh T phải chịu 5.068.000 đồng (Năm triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ.
Qũy tín dụng nhân dân Đức P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho Q tín dụng nhân dân Đức P số tiền 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003096 ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Ngân hàng C không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 05/12/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Vương |
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Thị Bích Thủy Phạm Thị Lệ Nguyên |
Phạm Minh Vương |
Bản án số 25/2024/HNGĐ - ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 25/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
