Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 28 - 10 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Hai.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc và Bà Nguyễn Ngọc Giao

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Huế - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên – Kiểm sát viên.

Vào ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 284/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện An Phú bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 40/2024/QĐXX-PT ngày 09 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Vương Thanh B, sinh năm 1982;
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé H, sinh năm 1983.

    Cùng nơi cư trú: Tổ F, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ngân hàng TMCP C;

      Trụ sở chính: Số A, T, Quận H, Thành phố Hà Nội.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B1 - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

      Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Châu T – Cán bộ Tổng hợp kiêm xử lý nợ.

      Nơi cư trú: Đường H, Trung tâm Thương mại A1, khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang.

    2. Ngân hàng C1;

      Địa chỉ: Số A, Phố L, Phường H, Quận H, Thành phố Hà Nội.

    3. Bà Trần Thị D, sinh năm: 1953;
    4. Bà Đỗ Thị R (U), sinh năm: 1968.

      Cùng nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

    (Ông B1, bà H có mặt, những người còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Vương Thanh B trình bày:

Hôn nhân giữa ông và bà Nguyễn Thị Bé H tự tìm hiểu rồi tổ chức lễ cưới vào năm 2003 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V ngày 10/02/2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi và đánh nhau.

Hiện nay, mặc dù sống chung nhà nhưng không sinh hoạt vợ chồng từ đầu năm 2023. Nay ông không còn tình cảm với bà H, yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: tên Vương Thiện P, sinh ngày 17/12/2005 (đã trưởng thành) và Vương Thiện A, sinh ngày 23/3/2012. Ông đồng ý giao cháu A cho bà H nuôi dưỡng, ông tự nguyện cấp dưỡng 900.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung:

  • Nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần C số tiền 200.000.000 đồng và Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1 số tiền 23.000.000 đồng tiền;
  • Bà Trần Thị D số tiền 150.000.000 đồng (cầm cố đất);
  • Bà Đỗ Thị R (U) số tiền hụi 18.000.000 đồng.

Ông và bà H đã tự thỏa thuận nghĩa vụ và phương thức trả với các chủ nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết về nợ chung.

Bị đơn, bà Nguyễn Thị Bé H trình bày:

Bà thống nhất với ông Vương Thanh B về thời gian, điều kiện đi đến hôn nhân. Tuy nhiên, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông B có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bà phát hiện vào khoảng tháng 11/2022. Sự việc được ban ấp V và Công an xã V hòa giải.

Hiện nay, bà vẫn còn thương yêu ông, không đồng ý ly hôn.

Về con chung, tài sản và nợ: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Người đại diện cho Ngân hàng TMCP C trình bày:

Phòng G thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần C Chi nhánh C2 ký hợp đồng tính dụng số: 278/2023/HĐCVHM/NHCT742-VTBINH ngày 31/8/2023 với ông Vương Thanh B, bà Nguyễn Thị bé H vay số tiền vốn gốc là 200.000.000 đồng. Hiện nay, Ngân hàng không có yêu cầu vợ chồng ông B, bà H thanh lý hợp đồng.

- Ngân hàng C1, bà Trần Thị D, Đỗ Thị R không có ý kiến trình bày.

Diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện; bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 284/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện An Phú đã tuyên xử:

Không chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông Vương Thanh B đối với bà Nguyễn Thị Bé H.

Ông Vương Thanh B có quyền khởi kiện xin ly hôn lại sau 01 (một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí dân sự, về áp dụng luật thi hành án và tuyên về phần quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn ông Vương Thanh B kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm cho ông được ly hôn với bà H.

Tại phiên tòa phúc thẩm

Nguyên đơn và bị đơn không thỏa thuận được với nhau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 284/2024/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện An Phú đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo, giữ y bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát và của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Vương Thanh B làm trong thời hạn, có hình thức, nội dung phù hợp và đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo đúng quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét đơn kháng cáo của ông Vương Thanh B về yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Bé H: Ông B cho rằng giữa ông và bà H không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn tình cảm giữa 02 người ngày càng trầm trọng nên ông yêu cầu được ly hôn.

Bà Nguyễn Thị Bé H cho rằng: vợ chồng mâu thuẫn là do bà phát hiện ông B nhắn tin tình cảm với người phụ nữ khác, nên ghen tuông, cự cãi nhưng được gia đình hòa giải, hàn gắn với nhau.

Trình bày của bà H phù hợp với lời trình bày của những người thân trong gia đình của vợ chồng ông B, bà H và sự hòa giải của chính quyền địa phương. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng ông B có xảy ra mà nguyên là do cả hai; ông B có ý không chung thủy; bà H thì ghen tuông khi chưa có căn cứ rõ ràng. Nhưng sau đó, cả hai đã thấy được lỗi lầm và tự nguyện sống chung nhà với nhau.

Nay, ông B cho rằng, hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng và yêu cầu ly hôn với bà H là chưa đủ căn cứ. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông B là có cơ sở.

[3] Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của ông B. Đề nghị này phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của ông B, giữ y bản án sơ thẩm

[5] Các phần Quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, ông B phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Vương Thanh B. Giữ y bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 284/2024/HNGĐ-ST ngày 24/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Tuyên xử:

Không chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Vương Thanh B đối với bà Nguyễn Thị Bé H.

Án phí phúc thẩm: Ông Vương Thanh B phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí. Khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0009997 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú (đã nộp đủ).

Các phần Quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện An Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện An Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Tòa Dân Sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Hai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/HNGĐ-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 25/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger