Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-ST

Ngày: 08-8-2024

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Phan Thị Đóa.
  • Bà Lê Thị Thường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 48/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản, yêu cầu chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 68/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1948. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Công T - Trợ giúp viên pháp lý. Nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N - Chi nhánh T10 pháp lý Nhà nước số 3. Có mặt.

- Bị đơn:

  • Ông Phùng Văn V, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • Bà Phùng Thị K, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Phùng Thị M, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • Bà Phùng Thị M1, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • Bà Phùng Thị M2, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
  • Bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31 tháng 5 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Lê Công T thống nhất trình bày: trong quá trình chung sống vợ chồng bà Nguyễn Thị Đ và ông Phùng Bá T2 (tên gọi khác Phùng Đức T3) tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) diện tích 280m² nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 311,4m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An và tài sản trên đất là nhà cấp 4. Thửa đất có nguồn gốc của bố mẹ đẻ ông T3 (ông Phùng Bá Ấ và bà Lê Thị T4) sử dụng làm nhà ở từ năm 1950. Năm 1951, bà Lê Thị T4 chết, năm 1967 ông T3 lấy bà Đ làm nhà ở trên thửa đất của bố mẹ. Năm 1981, ông Phùng Bá Ất c, vợ chồng bà Đ, ông T3 tiếp tục sử dụng, quản lý thửa đất và được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/11/1995 số G 505139 mang tên ông Phùng Bá T2. Năm 2018, được cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất thửa đất số 113, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) mang tên ông Phùng Đức T3 và Nguyễn Thị Đ. Quá trình sống ông T3, bà Đ đã nhiều lần tu sửa lại nhà và ở cho đến nay.

Vợ chồng bà Đ, ông T3 có 03 người con chung gồm Phùng Thị M, Phùng Thị M1, Phùng Thị M2. Ngoài ra, ông T3 còn có 02 người con với bà Hồ Thị T5 gồm ông Phùng Văn V và bà Phùng Thị Kiều . Năm 2019, ông T3 chết không để lại di chúc, bà Đ tiếp tục sinh sống quản lý, sử dụng thửa đất cho đến nay.

Bà Đ yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết chia cho bà Đ ½ trong khối tài sản chung của bà Đ và ông T3, diện tích đất bà được hưởng 155,7 m² (trong đó đất ở 100m², đất trồng cây hàng năm 55,7m²) và ½ tài sản trên đất nhà cấp 4. Yêu cầu phân chia di sản thừa kế chia của ông Phùng Bá T2 để lại ½ diện tích thửa đất số 1142, tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số), diện tích 311,4m². Phần di sản thừa kế của ông T2 để lại 155,7m² và ½ tài sản trên đất. Khi Tòa phân chia khối tài sản mà ông T2 để lại, là hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 bà xin được nhận bằng hiện vật.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, bà Đ bổ sung nội dung khởi yêu cầu Tòa án xem xét phần công sức trông coi, bảo vệ, quản lý di sản thừa kế của ông Phùng Bá T2, yêu cầu những người nhận thừa kế di sản ông T2 để lại trích 10% cho bà Đ.

Bị đơn ông Phùng Văn V vắng mặt. Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 11 tháng 4 năm 2024, ông trình bày: ông là con đẻ của ông Phùng Bá T2 với bà Hồ Thị T5. Bà Đ là vợ trước của ông T2. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Đ về việc chia 1/2 trong khối tài sản chung với ông T2. Ông đề nghị toàn bộ tài sản chia đều cho 06 người gồm bà Đ, các bà M, M1, Mơ, K và ông được hưởng như nhau vì nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông T2 (ông Á, bà T4) để lại cho ông T2 thờ cúng tổ tiên chứ không phải là tài sản do ông T2, bà Đào tạo d.

Bị đơn bà Phùng Thị K trình bày tại bản tự khai, biên bản hòa giải: bà là con của ông Phùng Bá T2 với bà Hồ Thị T5. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ vì nguồn gốc thửa đất không phải của ông T2, bà Đ mà của ông bà nội (ông Á, bà T4) đã chết để lại. Bà có ý kiến yêu cầu phản tố đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phùng Bá T2. Sau đó, bà không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phùng Bá T2 mà đề nghị Tòa án đưa một số người liên quan các bà Phùng Thị T6, Phùng Thị T7, Phùng Thị T8 và ông Phùng Bá N vào tham gia tố tụng. Bà đề nghị Tòa án xem xét đến nguồn gốc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T2. Tòa án đã tiến hành lập biên bản giao trách nhiệm cho bà K cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh các bà Phùng Thị T6, Phùng Thị T7, Phùng Thị T8 và ông Phùng Bá N có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc bà Đ yêu cầu phân chia tài sản chung và yêu cầu chia di sản thừa kế của ông T2, nhưng bà K không cung cấp. Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 12 tháng 4 năm 2024, các bà Phùng Thị T6, Phùng Thị T7, Phùng Thị T8 và ông Phùng Bá N trình bày không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ, chỉ có nguyện vọng thửa đất bà Đ yêu cầu chia là của ông bà để lại. Ông T2, bà Đ sử dụng thờ phụng tổ tiên. Sau này, bà Đ mất thì giao lại thửa đất cho ông Phùng Văn V thờ cúng. Đối với yêu cầu của chị K đưa các ông, bà vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông, bà đề nghị Tòa án làm việc với bà K.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các bà Phùng Thị M, Phùng Thị M2, Phùng Thị M1 thống nhất trình bày: các bà là con của bà Nguyễn Thị Đ và ông Phùng Bá T2. Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ chúng tôi nhất trí, đối với yêu cầu phân chia khối tài sản mà bố chúng tôi (ông Phùng Bá T2) phần của chúng tôi được nhận chúng tôi thống nhất giao lại cho mẹ (bà Nguyễn Thị Đ).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T1 trình bày: tháng 12/2022, bà thuê ốt của bà Đ, khi đó ốt nhỏ, thấp nên bà có sửa chữa, xây cao thêm, lợp tôn, đóng trần, đổ cao nền và lát gạch liên doanh, tường giữ nguyên như cũ chỉ ốp gạch phía dưới khoảng 80cm, thay toàn bộ cửa. Trường hợp Tòa án giao đất cho ai được hưởng phần diện tích đất có ốt thì phải trả lại chi phí bà đã bỏ ra sửa chữa bằng giá trị ốt mà Hội đồng định giá đã định giá 18.000.000đ (mười tám triệu đồng). Ngày 26/6/2024, bà rút yêu cầu, khi cần thiết bà sẽ tự tháo dỡ các tài sản do bà xây dựng thêm.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Thửa đất số 1142, tờ bản đồ 3 (bản đồ 299), diện tích 280m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An nay là thửa đất số 113, tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) có diện tích thực tế 300,5m², có tứ cận phía đông giáp đất ông Nguyễn Bá H1, phía tây giáp đường giao thông xóm, phía nam giáp đường giao thông liên xã, phía bắc giáp đất bà Hồ Thị C. Giá trị thửa đất tại thời điểm định giá: đất ở 6.000.000đ (sáu triệu đồng)/1m², đất vườn 3.000.000đ (ba triệu đồng)/1m². Trên đất có các tài sản sau: một nhà cấp 4 phía bắc diện tích 40,81m² giá 3.000.000đồng; 01 ốt quán trước nhà phía nam diện tích 11,26m² giá 18.000.000đồng; sân nền láng xi măng diện tích 75,4m² giá 1.000.000đồng; nhà tắm diện tích 2,4m² giá 5.000.000đồng; giếng ghép thùng giá 2.500.000đồng; nhà bếp xuống cấp không định giá; tường bao giữa khu đất giá 500.000đồng; nhà chăn nuôi dài 7,6m, rộng 4,3m giá 1.000.000đồng; 15 cây chuối chưa thu hoạch giá 375.000đồng; 01 cây mít giá 200.000đồng; 01 cây na xiêm giá 100.000đồng.

Tòa án đã tiến hành Thông báo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá cho các đương sự, không ai có khiếu nại hay ý kiến gì về tình trạng và giá trị tài sản đã được xem xét.

Chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ thỏa thuận chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản số tiền 6.300.000đ (sáu triệu ba trăm nghìn đồng), không yêu cầu các đương sự khác phải chi trả lại.

Xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q về việc tăng giảm diện tích của thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số), diện tích 311,4m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An: diện tích tăng thêm 11m² do đo đạc qua các thời kỳ khác nhau, diện tích tăng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương. Kết quả đo đạc hiện trạng thực tế sử dụng hiện nay có diện tích 300,5m² giảm 10,9m² là do xác định sai ranh giới, mốc giới năm 2014. Thửa đất ông T2, bà Đ đang sử dụng ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán thực hiện tương đối đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, còn vi phạm thời hạn xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: áp dụng các Điều 149, 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 166, 167 Luật đất đai 2013; các Điều 33, 66 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 147, 157, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ. Chia tài sản chung của vợ chồng bà Đ, ông T2, chia di sản thừa kế của ông T2 và buộc những người được hưởng di sản thừa kế trích trả công sức trông coi, bảo vệ, quản lý di sản cho bà Đ. Bà Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) diện tích 280m² nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 311,4m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An có diện tích thực tế 300,5m² và tài sản trên đất. Ông Phùng Văn V, bà Phùng Thị K, mỗi người được nhận giá trị bằng tiền tương ứng với phần thừa kế của mình do bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ giao lại. Ông V, bà K có nghĩa vụ trích trả công sức cho bà Đ từ 2-3% giá trị kỷ phần thừa kế được hưởng.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn giảm tiền án phí nên căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH, bà Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản bà được hưởng. Phần tài sản những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được hưởng giao lại cho bà Đ, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan các bà M, M1, M2 và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng trong khối di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, chia tài sản chung, bị đơn ông Phùng Văn V, bà Phùng Thị Kiều cư t tại huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, các bên không có thỏa thuận về thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26, khoản 2 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: bà Đ là vợ ông Phùng Bá T2. Ông T2 chết ngày 22/4/2019. Ngày 31/5/2023, bà Đ làm đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, chia tài sản chung của vợ chồng là đang còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015.

[1.3] Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn ông Phùng Văn V, bà Phùng Thị K đã được triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị T1 đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1.

[2] Về nội dung:

Bà Nguyễn Thị Đ và ông Phùng Bá T2 (Nguyễn Đức T9) có quan hệ vợ chồng, chung sống với nhau từ năm 1967 trên thửa đất có nguồn gốc của bố mẹ ông T9 (ông Phùng Bá Ấ, chết năm 1981 và bà Lê Thị T4, chết năm 1951) là thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) diện tích 280m² nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 311,4m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi ông Á chết, vợ chồng bà Đ, ông T9 tiếp tục sử dụng, quản lý thửa đất và được UBND huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 505139 ngày 30/11/1995 mang tên ông Phùng Bá T2. Ngày 25/5/2018, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 725842 đối với thửa đất số 113, tờ bản đồ số 18 diện tích 311.4m² (bản đồ địa chính dạng số) mang tên ông Phùng Đức T3 và bà Nguyễn Thị Đ. Bà Đ, ông T3 có 03 (ba) người con chung gồm Phùng Thị M, bà Phùng Thị M2, bà Phùng Thị M1. Ông Phùng Bá T2 có 02 (hai) người con riêng gồm Phùng Văn V, bà Phùng Thị Kiều . Ông T2 chết không để lại di chúc.

Bà Đ yêu cầu chia yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và yêu cầu chia tài sản thừa kế ông T2 để lại.

Bị đơn bà K, ông V không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các bà M, M1, Mơ thống nhất với yêu cầu của bà Đ, đồng ý chia di sản thừa kế của ông T2 và nhường kỷ phần của mình cho bà Đ được hưởng. Bà T1 không có yêu cầu gì.

[2.1] Xét yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân:

Bà Đ, ông T2 chung sống với nhau từ năm 1967. Tháng 02/1987, ông T2 và gia đình hỏi cưới bà Hồ Thị T5, bà T5 sống cùng bà Đ1 (mẹ kế ông T2) được một thời gian thì mua đất sống riêng ở nơi khác. Ông T2 chủ yếu sống cùng bà Đ, và qua lại với mẹ con bà T5. Căn cứ điểm c.1 mục 1 Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao xác định bà Đ, ông T2 là vợ chồng.

Ông T2, bà Đ được UBND huyện Q 02 lần công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) diện tích 280m² nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 311,4m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An bằng Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số G 505139 ngày 30/11/1995 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 725842 ngày 25/5/2018. Quá trình giải quyết không có đương sự nào đề nghị Toà án huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình xác định quyền sử dụng thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) diện tích 280m² nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 311,4m² (diện tích thực tế 300.5m², trong đó 200m² đất ở và 100.5m² đất trồng cây hàng năm) tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có giá trị 1.501.500.000 đồng và tài sản trên đất có giá trị 13.672.000 đồng. Là tài sản chung của bà Đ, ông T2 trong thời kỳ hôn nhân có tổng giá trị 1.515.172.000đ (một tỷ năm trăm mười lăm triệu một trăm bảy mươi hai nghìn đồng). Ông T2 chết không để lại di chúc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có thỏa thuận về tài sản, các con không có công sức đóng góp vào việc xây dựng tài sản. Xét về nguồn gốc, công sức đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung của vợ chồng, việc phân chia tài sản chung không thuộc trường hợp bị hạn chế, nên căn cứ vào quy định tại Điều 66 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng cho bà Đ được nhận ½ tài sản trong khối tài sản chung nêu trên, có giá trị 757.586.000đ (bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

[2.2] Xét yêu cầu chia di sản thừa kế:

[2.2.1] Về thời điểm mở thừa kế: ông Phùng Bá T2 (Phùng Đức T3) chết ngày 03/5/2019 (Trích lục khai tử số 65/TLKT-BS ngày 03/7/2020 của Ủy ban nhân dân xã Q). Căn cứ vào Điều 611 Bộ luật Dân sự xác định thời điểm mở thừa kế của ông T3 là ngày 03/5/2019.

[2.2.2] Về di sản thừa kế: 1/2 giá trị quyền sử dụng thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) diện tích 280m² nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 311,4m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 725842 ngày 25/5/2018 mang tên ông Phùng Đức T3, bà Nguyễn Thị Đ, có diện tích thực tế 300,5m² và 1/2 giá trị tài sản trên đất. Là di sản của ông T3 để lại, có tổng giá trị 757.586.000đ (bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

[2.2.3] Về người thừa kế: các đương sự thừa nhận ông T3 có 03 người con chung với bà Đ gồm Phùng Thị M, Phùng Thị M1, Phùng Thị M2. Ông T3 có 02 người con riêng gồm ông Phùng Văn V và bà Phùng Thị Kiều . Bố mẹ ông T3 đã chết. Căn cứ các Điều 613, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015, xác định người được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông T3 gồm có bà Đ, bà M, bà M1, bà M2, ông V và bà K.

[2.2.4] Về việc phân chia di sản của ông T3:

Di sản của ông T3 để lại có giá trị 757.586.000đ (bảy trăm năm mươi bảy triệu năm trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

Khoản 2 Điều 651 và khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự quy định những người cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau, do đó kỷ phần mỗi người được chia, tương ứng với giá trị 757.586.000đ : 6 = 126.264.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng).

Điểm a, b khoản 2 Điều 14 Quyết định 28/2021/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh N ngày 17/9/2021 ban hành quy định về cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng trên địa bàn tỉnh Nghệ An quy định: “a, Tại địa bàn các phường, xã thuộc thành phố V, thị trấn các huyện và các phường, xã ven biển, bãi ngang là 50m² và chiều bám đường giao thông chính không được thấp hơn 4m và chiều sâu thửa đất cạnh vuông góc với đường giao thông tối thiểu là 4m; b, Tại các địa bàn còn lại là 80m² và chiều bám đường không được thấp hơn 4m và chiều sâu thửa đất cạnh vuông góc với đường giao thông tối thiểu là 4m;”. Di sản của ông T3 để lại là quyền sử dụng 150,25m² đất (trong đó 100m² đất ở và 50,25m² đất trồng cây hàng năm) nên mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng 25,04m² đất (trong đó 16,67m² đất ở và 8,37m² đất vườn). Xét thấy nếu giao cho ông V, bà K mỗi người diện tích 25,04m² thì sẽ không đủ diện tích để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn bà Đ đề nghị được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà M, M1, Mơ đều đề nghị được nhận bằng hiện vật và giao lại cho bà Đ quản lý. Xét việc nhường phần di sản của các bà M, M1, M2 cho bà Đ, là tự nguyện, không vi phạm quy định pháp luật nên cần chấp nhận. Do đó, giao cho bà Đ được nhận thừa kế toàn bộ di sản thừa kế do ông T3 để lại. Bà Đ có trách nhiệm giao lại ông V và bà K mỗi người được nhận số tiền 126.264.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng).

[2.3] Xét yêu cầu trích chia 10% công sức, duy trì và quản lý tài sản: Di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất có nguồn gốc từ bố mẹ ông T3, năm 2019 ông T3 chết, bà Đ trực tiếp sinh sống và quản lý, các con của ông T3 đã ra ở riêng và sinh sống ổn định tại mảnh đất khác, nên chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đ. Buộc các đồng thừa kế trích cho bà Đ 2% x 126.264.000 đồng = 2.525.000đ (hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Bà Đ nhận phần thừa kế của các bà M, M1, M2 nên các bà M, M1, M2 không phải trích công sức cho bà Đ. Ông V, bà K mỗi người phải trích trả công sức quản lý di sản cho bà Đ số tiền 2.525.000đ (hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

[2.4] Trên diện tích đất có 01 (một) ốt do bà Đ xây dựng, bà T1 tôn tạo thêm. Bà T1 đề nghị giao cho bà Đ và không có yêu cầu gì.

[2.5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không yêu cầu các đương sự khác chi trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn giảm tiền án phí, nên được miễn tiền án phí. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (các bà M, M1, M2) phải chịu tiền án phí của phần di sản được hưởng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 5 Điều 26, khoản 2 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Các Điều 33, 66 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Các Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651 và khoản 2 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Các Điều 95, 99, 167 và điểm d khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013.
  • Các Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia tài sản chung của vợ chồng và chia di sản thừa kế. Phân chia cụ thể như sau:

  1. Chia cho bà Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng thửa đất số 1142 tờ bản đồ 3 (bản đồ 299) diện tích 280m² nay là thửa đất số 113 tờ bản đồ số 18 (bản đồ địa chính dạng số) diện tích 311,4m² tại xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 725842 ngày 25/5/2018 mang tên ông Phùng Đức T3, bà Nguyễn Thị Đ, có diện tích thực tế 300,5m² (trong đó đất ở 200m², đất bằng trồng cây hàng năm 100,5m²). Có tứ cận: phía đông giáp đất ông Nguyễn Bá H2 dài 2,96m + 12,58m + 11,37m; phía tây giáp đường giao thông xóm dài 2,37m + 0,50m + 10,02m + 3,99m + 10,94m; phía nam giáp đường giao thông liên xã dài 12,36m; phía bắc giáp đất bà Hồ Thị C dài 9,14m + 1,18m. (Có sơ đồ kèm theo). Bà Đ được quyền sở hữu tài sản trên đất gồm 01 (một) nhà cấp 4 phía bắc, 01 (một) ốt quán trước nhà phía nam, sân nền láng xi măng, nhà tắm, giếng ghép thùng, nhà bếp xuống cấp, tường bao giữa khu, nhà chăn nuôi, 15 (mười lăm) cây chuối, 01 (một) cây mít, 01 (một) cây na xiêm.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán giá trị chia kỷ phần thừa kế cho ông Phùng Văn V số tiền 126.264.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng), cho bà Phùng Thị K số tiền 126.264.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng).
  3. Ông Phùng Văn V được quyền sở hữu số tiền 126.264.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng) do bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán giá trị chia kỷ phần thừa kế.
  4. Bà Phùng Thị K được quyền sở hữu số tiền 126.264.000đ (một trăm hai mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng) do bà Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán giá trị chia kỷ phần thừa kế.
  5. Ông Phùng Văn V có nghĩa vụ trích trả công sức bảo quản di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 2.525.000đ (hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  6. Bà Phùng Thị K có nghĩa vụ trích trả công sức bảo quản di sản thừa kế cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 2.525.000đ (hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  7. Bà Nguyễn Thị Đ được quyền sở hữu: số tiền 2.525.000đ (hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) do ông V có nghĩa vụ trích trả và số tiền 2.525.000đ (hai triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) do bà K có nghĩa vụ trích trả.
  8. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được chia quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký, chuyển đổi đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
  9. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  10. Án phí: Buộc các bà Phùng Thị M, Phùng Thị M1, Phùng Thị M2, Phùng Thị K và ông Phùng Văn V mỗi người phải nộp số tiền 6.313.000đ (sáu triệu ba trăm mười ba nghìn đồng) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bà Nguyễn Thị Đ.
  11. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có mặt, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - CCTHADS huyện Quỳnh Lưu;
  • - UBND huyện Quỳnh Lưu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hải Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung

  • Số bản án: 25/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản, chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger