Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 25/2024/DS-PT

Ngày 15 - 11 - 2024

V/v “Tranh chấp đòi tài sản là quyền

sử dụng đất nông nghiệp”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Thuỷ và ông Trần Văn San.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký TAND tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà

Vũ Thị Thanh Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2024/QĐ-PT ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Dương Thị N năm 1929; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam

Người đại diện theo ủy quyền của bà Dương Thị N1 LCông ty L5địa chỉ: 1 P, phường P, quận B, thành phố Hà Nội-Người đại diện theo pháp luật: Luật sư Nguyễn Thanh Q vụ: Giám đốc; người đại diện theo quyết định phân công của Công ty L11 là ông Nguyễn Văn T viên pháp lý; có mặt.

* Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Văn L năm 1951; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam có đơn xin xử vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn V năm 1958; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam Người đại diện theo ủy quyền của ông V16 bà Hoàng Thị D(Vợ ông V1 mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị N2 năm 1953; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam có mặt.
  2. Ông Lê Văn Đ năm 1955; anh Lê Văn T1 năm 1996; ông Lê Văn B năm 1973; bà Nguyễn Thị P năm 1964; cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam
  3. Bà Lê Thị P1 năm 1963; địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
  4. Bà Lê Thị H năm 1968; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
  5. Chị Lê Thị H1 năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn Đ1 L12: Công ty L13 chỉ: 1 P, phường P, quận B, thành phố H diện theo pháp luật: Luật sư Nguyễn Thanh Q vụ: Giám đốc; người đại diện theo quyết định phân công của Công ty L11 là ông Nguyễn Văn T viên pháp lý; có mặt.

  1. Bà Hoàng Thị D1 năm 1965; anh Nguyễn Văn V2 năm 1987; anh Nguyễn Thanh L1 năm 1990; cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam.
  2. Chị Nguyễn Thị M D1sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam.

Người đại diện theo ủy quyền của anh N31 Nguyễn Thị M D1anh Nguyễn Thanh L2là bà Hoàng Thị D(người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án); có mặt.

  1. Bà An Thị M1 năm 1957 và anh Nguyễn M2 Đ1sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ A, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh
  2. Chị Nguyễn Thị T2 H2sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ A, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh
  3. Bà Nguyễn Thị C năm 1957 và bà Nguyễn Thị M3 năm 1971; cùng địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam
  4. Bà Nguyễn Thị L2 năm 1961 và bà Nguyễn Thị M4 năm 1965; cùng địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam
  5. Bà Nguyễn Thị M5 năm 1963 và bà Nguyễn Thị M6 năm 1968; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Cbà Nguyễn Thị L3 N32 Đ1chị Nguyễn Thị T2 H2là: Ông Nguyễn Văn L4(bị đơn trong vụ án, xin xử vắng mặt) và ông Nguyễn Văn H2 năm 1956; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị N3 tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được xác định như sau:

Bà Dương Thị N4 ông Lê Văn H3(chết năm 1981) là vợ chồng. Thời kỳ bao cấp, gia đình bà N4 gia đình cụ Nguyễn Văn X Nguyễn Văn T2là hai hộ có đất liền kề cùng sử dụng đất ao của Hợp tác xã N4để thả cá. Sau khi cụ H4chết, bà N27 tiếp tục làm ao nên ông Nguyễn Văn V3(con cụ T2và cụ Nguyễn Văn X1 nhà bà hỏi mượn phần đất ao của gia đình bà để sử dụng và hứa khi nào cần đất canh tác thì trả.

Tháng 4/1993, Nhà nước giao đất cho các hộ gia đình sử dụng, hộ gia đình bà N5 giao (trừ 03 tiêu chuẩn) đất nông nghiệp vào thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 diện tích 190m² đất ao tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam Nhưng gia đình bà N27 trực tiếp nhận diện tích, ranh giới, mốc giới thửa đất; bà N27 nhớ diện tích đất của mỗi tiêu chuẩn và các thửa đất được giao đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa. Sau khi hộ gia đình bà N5 Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Ngiao thửa đất trên thì cụ X11 ông V4 sử dụng. Cuối năm 1993, gia đình bà N6 cầu ông V9 cụ X2 đất nhưng đến nay cụ X11 ông V5 trả được 60m² vào tiêu chuẩn đất nông nghiệp của bà N13(con gái bà N7 130m² ông V9 ông L4(con trai cụ X3 trả.

Nay bà N8 kiện yêu cầu: Ông V9 ông L1phải trả gia đình bà N130m² (mỗi người trả 65m²) đất ao tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, thuộc thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam

* Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn L5 sau:

Ông L1là con của cụ Nguyễn Như X4(tên gọi khác Nguyễn Văn X5 tích đất mà bà N9 đòi thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình cụ X và hộ gia đình ông V. Trước năm 1993, thửa đất 187, tờ bản đồ số 2 tại thôn N, xã N là đất ao do Hợp tác xã N4quản lý và giao cho 04 hộ gia đình gồm: Hộ cụ N33 Nguyễn Văn V6 nhau sử dụng chung và trả sản lượng cho Hợp tác xã.

Quá trình sử dụng đất chung: Hộ gia đình bà N10 X1ông V liền kề ao đã lấn chiếm, diện tích ao còn lại nhỏ hẹp không nuôi cá được nữa nhưng vẫn phải trả sản lượng cho Hợp tác xã nên hộ cụ C1hộ bà N11 không sử dụng. Hộ ông V9 cụ X1vẫn tiếp tục canh tác và trả sản lượng cho Hợp tác xã.

Về chính sách đất đai: Năm 1993, Nhà nước giao đất nông nghiệp cho người dân quản lý, sử dụng thì UBND xã Nguyên Lý cấn đối, trừ tiêu chuẩn đất nông nghiệp của hộ cụ X4(03 khẩu gồm: Cụ X1cụ Nguyễn Thị D2và bà Trần Thị M7) và hộ ông Vsử dụng chung thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, diện tích 180m² đất ao. Sau nhiều lần dồn đổi ruộng đất nông nghiệp, thửa đất này vẫn được giao cho hộ cụ X1và hộ ông V14 hộ được giao 90m². Cụ X1đã được UBND huyện Lcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/01/2000 tên người sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn X7 đất số 187, tờ bản đồ số 2, diện tích 90m² đất vườn.

Về thành viên hộ thừa kế: Năm 1995 cụ D2chết, năm 2022 cụ X8. Cụ D2và cụ X8 đều không để lại di chúc, không có văn bản tặng cho quyền sử dụng đất cho ai; đến nay anh, chị, em trong gia đình ông L1vẫn chưa thoả thuận phân chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại. Cụ X11 cụ D2có 08 người con gồm: Ông Nguyễn Văn L4, bà Nguyễn Thị Cbà Nguyễn Thị L6, bà Nguyễn Thị M8, bà Nguyễn Thị M9, bà Nguyễn Thị M10, bà Nguyễn Thị M11, ông Nguyễn Đức L7(chết năm 2023), ông L4có vợ là bà An Thị M12 có 02 con là anh Nguyễn M2 Đ1và chị Nguyễn Thị Thanh H4 L1là con trai trưởng hiện đang quản lý, trông coi thửa đất trên.

Do bà N1con gái bà N12 lần kiện đòi đất và được UBND xã Nhoà giải động viên nên cụ X11 ông V7 nhường cho bà N1một phần diện tích đất tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 để bà N1làm ngõ đi. Cụ thể, năm 2015 cụ X11 ông V14 gia đình cắt cho bà N130m² đất tại thửa đất này, bà N1phải trả tiền công san lấp cho mỗi gia đình số tiền 15.000.000 đồng, bà N1phải tự xây tường bao. Bà N1đã nhận diện tích, ranh giới, mốc giới đất và đã thanh toán xong tiền. Sau thoả thuận năm 2015, thực hiện phương án dồn đổi ruộng đất, tiêu chuẩn đất nông nghiệp của hộ bà N1hộ cụ X11 hộ ông V8 đã được đối trừ đến nay đã đủ.

Ông Nguyễn Văn L8 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Nđề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn V9 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (phía bị đơn) anh Nguyễn Văn V1anh Nguyễn T3 L2chị Nguyễn Thị M D1bà Hoàng Thị D (đồng thời bà D2 người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn và người liên quan phía bị đơn nêu trên) như sau:

Năm 1993, thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, diện tích 180m² đất ao thuộc thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam được UBND xã Ngiao cho hộ gia đình ông V9 hộ cụ Nguyễn Văn X9 dụng chung thửa, mỗi hộ được quyền sử dụng 90m². Sau nhiều lần dồn đổi ruộng đất, thửa đất này vẫn được giao cho hộ gia đình ông V9 hộ gia đình cụ X10 hộ được sử dụng 90m² và đã san lấp thành vườn, sử dụng ổn định. Gia đình bà D3 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hộ gia đình bà N27 được giao thửa đất này nên không có quyền sử dụng.

Bà D4 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N4 đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn bà Lê Thị N13(con bà N14 bày:

Thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, diện tích 190m² đất ao tại xóm L, N (nay là thôn N), xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam có nguồn gốc của hộ gia đình ông Lê Văn H5 bà Dương Thị N15. Bà N4 ông H4có 06 người con chung gồm: Bà L14, ông Lê Văn Bông Lê Văn N16(đã chết) ông N2có vợ là bà Nguyễn Thị P2 và có 02 con là chị Lê Thị H6, anh Lê Văn T4. Năm 1981 ông H4chết không để lại di chúc, không có văn bản tặng cho quyền sử dụng đất cho ai.

Thời kỳ bao cấp, thửa đất ao này có diện tích rộng nên có 03 hộ gia đình cùng sử dụng chung là hộ ông Lê Văn H7 cụ Nguyễn N17 X1và hộ cụ Nguyễn Văn T2sau này cả 03 hộ cùng dồn đất chung vào Hợp tác xã N4để thả cá. Sau khi ông H4chết, bà N18 khỏe yếu không tiếp tục làm ao được nữa nên bà N13(con gái bà N19 H4và cụ X1ông Vcùng làm. Khoảng năm 1986 hoặc năm 1987 bà N1ốm không làm ao được thì cụ X1và ông V10 và đều lấn chiếm đất ao. Cuối năm 1990, bà N1đến nhà ông V11 cầu trả lại ao nhưng cụ X1và ông V12 trả.

Tháng 4/1993, UBND xã Nđã giao thửa đất này cho hộ bà N20 khi được UBND xã N 190m² đất ao này nhưng gia đình bà N27 được sử dụng vì hộ cụ X1và hộ ông V4 tiếp tục chiếm dụng. Khoảng cuối năm 1993, bà N1gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến UBN34 nhưng phải đến năm 2015, ông V9 cụ X1mới đồng ý mỗi hộ trả cho bà 30m² (tổng là 60m²). Năm 2022, cụ X1chết, ông L1con trai cụ X1là người trực tiếp quản lý sử dụng phần đất của gia đình bà N21 N1nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà N

* Ý kiến của ông Lê Quốc Đ2 người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn gồm: Ông Lê Văn Đ1 L15 ý kiến: Nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà N

* Ý kiến ông Nguyễn Văn L9 ông Nguyễn Văn H8 là người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bị đơn gồm: Bà Nguyễn Thị C1 N32 ý kiến: Nhất trí với ý kiến của ông L1không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N

Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/6/2024 xác định: Hiện nay thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, diện tích 180m² đang được tách làm 3 phần; hộ cụ X1hộ bà N1và hộ ông V14 hộ sử dụng 60m², từng phần đất của các hộ sử dụng liền kề nhau đều có ranh giới, mốc giới rõ ràng.

Tại biên bản định giá ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá xác định giá trị tài sản như sau: 60m² đất vườn hộ cụ X1đang sử dụng có giá 19.170.000đồng; 60m² đất ao hộ ông V13 sử dụng có giá 19.170.000đồng. Phần đất và các tài sản trên đất do bà N1đang quản lý, sử dụng không có tranh chấp nên các đương sự không yêu cầu định giá.

Bản án dân sự sơ thẩm sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã quyết định:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 264, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Điều 12, Điều 24, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị N22 việc: Yêu cầu ông Nguyễn Văn L9 ông Nguyễn Văn V14 người phải trả cho bà Dương Thị N23 tích 65m² đất ao tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Dương Thị N15.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 16/09/2024, nguyên đơn bà Dương Thị Nkháng C2 đề nghị huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân và buộc ông Nguyễn Văn L9 ông Nguyễn Văn V15 lại đất cho bà.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn (người đại diện theo ủy quyền) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Và thừa nhận: Không có tài liệu pháp lý chứng minh quyền sử dụng đất thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 là của bà N27 có quyết định giao đất, không có tài liệu chứng minh trừ tiêu chuẩn đất nông nghiệp, không có tên trong hồ sơ địa chính. Đề nghị buộc ông Nguyễn Văn L9 ông Nguyễn Văn V15 lại đất nông nghiệp cho bà N

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị N24 trí với yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị N4 cho rằng giai đoạn trước năm 1993 thửa đất ao nêu trên là của Hợp tác xã, các gia đình cùng sử dụng chung nuôi bèo phục vụ chăn nuôi, sau đó gia đình bà không sử dụng. Sau năm 1993, bà không rõ nhà nước chia đất nông nghiệp vào phần đất ao này như thế nào. Đề nghị buộc ông Nguyễn Văn L9 ông Nguyễn Văn V15 lại đất nông nghiệp cho bà N

- Bà Hoàng Thị D5 người đại diện theo ủy quyền cho phía bị đơn (ông V12 nhất trí với yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị N25 bà N27 được chia quyền sử dụng đất nông nghiệp thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 xã N

- Ông Nguyễn Văn H9 diện theo uỷ quyền cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phía bị đơn: Không nhất trí với yêu cầu kháng cáo của bà Dương Thị N25 đất ao là của Hợp tác xã, nhà nước chia cho ai người đó được sử dụng, bà N27 được chia quyền sử dụng đất nông nghiệp thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 xã N

- Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam:

Đơn kháng cáo của bà Dương Thị N26 thời hạn luật định nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của cấp phúc thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Dương Thị N15. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Dương Thị N27 phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo ngày 16/09/2024 của nguyên đơn bà Dương Thị N26 thời hạn luật định nên là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án cấp sơ thẩm. Người kháng cáo không đưa ra được tài liệu chứng minh cho yêu cầu kháng cáo hủy án về tố tụng nên không chấp nhận.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Thị N15 yêu cầu ông Nguyễn Văn L9 ông Nguyễn Văn V15 lại đất nông nghiệp cho bà N

Theo bản đồ 299 năm 1987, thửa đất bà N8 kiện tranh chấp với ông Nguyễn Văn L4 và ông Nguyễn Văn V16 thửa đất số 466, tờ bản đồ số 1, diện tích 415m² thuộc xóm N (nay là thôn N), xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam thuộc quyền quản lý của Hợp tác xã N35; hộ ông Lê Văn H7 cụ Nguyễn Văn X11 hộ ông Nguyễn Văn V17 sử dụng chung để thả bèo nuôi lợn, cân hơi lợn nghĩa vụ cho hợp tác xã. Quá trình sử dụng ao, cả 03 hộ đều tự san lấp, lấn chiếm nên diện tích ao ngày càng thu hẹp. Sau các hộ thả bèo nuôi lợn không có hiệu quả, hộ ông H4bỏ không làm ao nữa, chỉ còn 02 hộ tiếp tục làm ao là hộ cụ X11 hộ ông V Năm 1993, thực hiện giao ruộng đất nông nghiệp cho các hộ gia đình theo Quyết định 115 của UBN34(nay là UBND tỉnh H, thửa đất ao trên chỉ còn diện tích 180m² được UBND xã N cho hộ cụ Nguyễn Văn X11 hộ ông Nguyễn Văn V14 hộ được quyền sử dụng 90m² (chung thửa). Hộ gia đình bà N27 được giao (trừ đất nông nghiệp) vào thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 tại thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam Đối với ông Lê Văn H10 chết năm 1981 nên không có tiêu chuẩn đất nông nghiệp. Tại thời điểm giao đất năm 1993, hộ gia đình bà N7 nợ nghĩa vụ đối với Hợp tác xã nên không được chia đủ ruộng ngay đợt đầu, khi dồn đổi ruộng mới được chia đủ ruộng. Sau khi được giao đất, hàng năm hộ gia đình cụ X11 hộ Vlà người trực tiếp sử dụng và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước (thuế, quỹ, sản phẩm...). Hộ gia đình bà N27 phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với diện tích đất ao này.

Theo bản đồ 924 năm 1999, phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 có diện tích 180m² đất ao, trong đó: Hộ gia đình cụ X12 được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/01/2000, thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, diện tích 90m² đất vườn; hộ gia đình ông Nguyễn Văn V18 dụng thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, diện tích 90m² đất ao nhưng hộ ông V19 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này, đối với đất ở và đất vườn hộ gia đình ông Nguyễn Văn V20 kề đất ao cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, thửa đất này đã được hộ cụ X11 hộ ông V21 lấp ao thành vườn.

Do bà N3con gái bà N12 năm khiếu nại, khiếu kiện diện tích đất ao này nên ngày 03/9/2015, UBND xã N tiến hành hoà giải việc tranh chấp đất đai giữa 03 hộ bà N28 cụ X13 VKết quả hoà giải: 03 hộ gia đình đã thống nhất chia 180m² đất thuộc thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 cho bà N3được sử dụng 60m² và diện tích đất trên được cân đối quy tiêu chuẩn đất 115 theo phương án chia ruộng năm 1993 cho hộ bà N28, hộ cụ X11 hộ ông VNgày 07/9/2015, UBND xã N, giao 60m² đất ao tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 cho bà N3quản lý, sử dụng, bà N3đã nhận mốc giới, ranh giới, diện tích đất và ký xác nhận nội dung biên bản làm việc. Việc thỏa thuận này bà N29 biết bà nhất trí.

Kết quả xác minh tại UBND xã N: Năm 1993, hộ gia đình bà N27 được chia đất tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 thuộc thôn N, xã N tiêu chuẩn, diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình bà N21 N3đã được chia đủ, diện tích 180m² đất ao tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 đã được chia và cân đối tiêu chuẩn đất nông nghiệp cho 03 hộ gia đình gồm: Hộ cụ X14 ông V9 hộ bà N3theo thoả thuận năm 2015. Nên bà Dương Thị N27 có quyền sử dụng đất tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 xã N sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N1 Lcó căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn bà Dương Thị N30 nhận không có bất kì tài liệu pháp lý nào chứng minh thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2 có nguồn gốc đất ao Hợp tác xã đã được Nhà nước giao đất, sổ phương án chia đất nông nghiệp, bản đồ địa chính không đứng tên hộ Dương Thị Nhất là người sử dụng đất. Bà Dương Thị Nkháng C2 yêu cầu ông Nguyễn Văn L9 ông Nguyễn Văn V14 người phải trả cho bà N65m² đất ao tại thửa đất số 187, tờ bản đồ số 2, địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Dương Thị Nhất L10 cao tuổi nên được miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Dương Thị N15. Và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Dương Thị N27 phải nộp. Bà N5 nhận lại số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000993 ngày 27/9/2024.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Hà Nội.
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - TAND huyện Lý nhân
  • - Chi cục THADS huyện Lý nhân
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Trưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2024/DS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp

  • Số bản án: 25/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Người khởi kiện không có tài liệu chứng cứ chứng minh có quyền sử dụng đất nông nghiệp nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là đúng pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger