TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2024/DS-ST
Ngày: 06/6/2024
V/v “Tranh chấp đòi lại quyền sử
dụng đất, hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Đinh Ngọc Tiến
- Ông Nguyễn Xuân Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hữu Xuân Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 195/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Nhất Yến P, sinh năm 1993, địa chỉ: A N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1966; địa chỉ: A N, P, N, Khánh Hòa – Luật sư của Văn phòng Luật sư Lê Văn T và cộng sự, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Bùi X, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T1, sinh năm 1985; nơi cư trú: 18 N, tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa – Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
1
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1936; nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K; địa chỉ: Số A H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện hợp pháp:
- Ông Lê Trần T2 – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ1. Vắng mặt tại phiên tòa, có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Hồ Chí T3 – Tổ phó Tổ hành chính Chi nhánh Văn phòng Đ1. Vắng mặt tại phiên tòa, có đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân thành phố C; địa chỉ: Khu L, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Văn phòng công chứng Trần Văn T4 (nay là Văn phòng C) và Công chứng viên Trần Văn T4; địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Bà là chủ sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17, tại thôn H, xã C, thành phố C, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 814716, số vào sổ cấp GCN CS 03730, cấp cho bà Nguyễn Thị H ngày 08/01/2021. Nguồn gốc thửa đất trên là do bà được tặng cho từ mẹ là bà Nguyễn Thị Đ.
Trong quá trình sử dụng đất, năm 2022, bà phát hiện ông Bùi X tự ý cất chuồng bò và rào lưới B40 trên phần diện tích đất của bà, bà đã nhiều lần yêu cầu ông X tháo dỡ nhưng ông không đồng ý, bà và ông X đã được Ủy ban nhân dân xã C, thành phố C hòa giải nhưng không thành.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi X tháo dỡ các công trình trên phần diện tích đất mà nguyên đơn là chủ sở hữu, trả lại hiện trạng đất để nguyên đơn đi lại.
Sau khi có kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ 02 chuồng bò, toàn bộ hàng rào, di dời bị chứa nước được xây dựng trên diện tích 160.1m² để trả lại đất cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nguồn gốc của tổng thể lô đất trước khi được cấp Giấy chứng
2
nhận cho bà Nguyễn Thị Đ và sau đó tặng cho lại bà Nguyễn Thị H. Theo hồ sơ này cho thấy phần đất không được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận cũng thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Bản thân bị đơn trong quá trình quản lý, sử dụng thường xuyên thay đổi hiện trạng, khi thì rào chỗ này, khi khác lại rào chỗ khác nên tuy hiện nay đã tháo dỡ một phần diện tích nhưng nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là vậy. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải tháo dỡ 02 chuồng bò, toàn bộ hàng rào, di dời bi chứa nước được xây dựng trên diện tích 160.1m² để trả lại đất cho nguyên đơn.
Bị đơn trình bày: Gia đình ông có khai hoang một phần diện tích đất từ 25 năm trước, trong đó có phần diện tích đất là 160.1m² mà ông đang dựng chuồng bò, rào lưới giữ bò và trồng cây lâu năm theo kết quả đo đạc hiện trạng ngày 12/4/2024. Việc bà H cho rằng ông dựng chuồng bò trên đất của bà, ông không đồng ý, ông cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H và trước đó là cho mẹ bà H – bà Nguyễn Thị Đ là không đúng quy định của pháp luật.
Do đó, ông yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 814716, số vào sổ cấp GCN CS 03730, cấp cho bà Nguyễn Thị H ngày 08/01/2021; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 696270, số vào sổ cấp GCN CH 02181, được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp cho bà Nguyễn Thị Đ ngày 26/9/2017; yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Đ và bà H, được Văn phòng công chứng Trần Văn T4, số công chứng 5269, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD lập ngày 29/12/2020.
Hiện nay bị đơn đã tháo dỡ một phần chuồng bò T1 (ký hiệu theo mảnh trích đo địa chính số 04-2024, của Công ty TNHH Đ2, kèm theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2024), một phần hàng rào lưới B40 và di dời bi nước để trả lại phần diện tích 60.1m² cho nguyên đơn. Còn phần diện tích bị đơn sử dụng 100m² còn lại nằm trong phần diện tích đất của Nhà nước, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho nguyên đơn nên bị đơn không đồng ý tháo dỡ để trả lại.
Ngày 07/5/2024, bị đơn xin rút toàn bộ yêu cầu phản tố về việc yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G thống nhất ý kiến của bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K trình bày: Ngày 26/9/2017, bà Nguyễn Thị Đ được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp Giấy chứng nhận số vào số CH02181 đối với thửa số 84, tờ 17, diện tích 2791,8m² tại xã C, thành phố C. Ngày 29/12/2020, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17, diện tích 2791,8m² tại xã C. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Đ
3
và bà Nguyễn Thị H được Văn phòng công chứng Trần Văn T4 chứng nhận số công chứng 5269, quyền số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/12/2020. Sau khi được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thẩm định hồ sơ đủ điều kiện chuyển quyền theo quy định, bà Nguyễn Thị H được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh K cấp Giấy chứng nhận số CS03730 08/01/2021 đối với thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17, diện tích 2791,8m² tại xã C.
Như vậy, căn cứ theo khoản 1, Điều 179 và Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; Điều 17 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014, Sở Tài nguyên và Mồi trường tỉnh Khánh Hòa thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đât số CS03730, ngày 08/01/2021 theo quy trình 19.4 Điều 19 Quyết định số 1590/QĐ-UBND ngày 23/3/2019 của UBND tỉnh K về việc phê duyệt quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai liên quan đến hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh là đúng theo quy định pháp luật.
Do đó, Sở T không đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS03730 ngày 08/01/2021 theo yêu cầu của bị đơn ông Bùi Xy .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn H1 trình bày: Hiện tại, ông đang chung sống như vợ chồng với bà Nguyễn Thị H (nguyên đơn). Vừa qua, ông được biết: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi X tháo dỡ chuồng bò, trả lại cho bà H hiện trạng của thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17 tại thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17 là tài sản của bà Nguyễn Thị H được mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Đ tặng cho theo hợp đồng tặng cho QSD đất do Văn phòng công chứng Trần Văn T4 chứng nhận ngày 29/12/2020 và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03730 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 08/01/2021 đứng tên bà Nguyễn Thị H. Đây là tài sản riêng của bà H, ông không có liên quan, không có đóng góp gì vào việc tạo dựng nên khối tài sản này.
Trong thời gian chung sống với bà H, ông biết nguồn gốc tài sản của bà H là được mẹ tặng cho, việc quản lý và sử dụng đất của bà Đ (mẹ ruột) và của bà H ổn định lâu dài, có đăng ký tại địa phương và đã được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Do đó, ông đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xem xét chấp thuận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc: Buộc ông Bùi X tháo dỡ chuồng bò, trả lại cho bà H hiện trạng của thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17 tại Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.
Đối với yêu cầu phản tố của ông Bùi X về việc: hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH02181 do UBND thành phố C cấp ngày 26/9/2017 đứng tên bà Nguyễn Thị Đ, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Đ và bà Nguyễn Thị H do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 29/12/2020, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS03730 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp ngày 08/01/2021 đứng tên
4
bà Nguyễn Thị H là không có cơ sở. Kính đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa bác đơn yêu cầu phản tố của ông Bùi Xy .
Vì ông không liên quan đến thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17, tại thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Nếu sau này Tòa án xét xử vụ án, ông xin vắng mặt tại các buổi xét xử, buổi làm việc, hòa giải... mọi quyết định của Tòa án, ông cam kết tuân thủ và thực hiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C) trình bày:
Ngày 29/12/2020, Văn phòng C1 tiến hành công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Đ (bên tặng cho) và bà Nguyễn Thị H (bên nhận tặng cho) theo hồ sơ công chứng số 5269, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/12/2020.
Việc công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên là đúng quy định pháp luật, văn bản công chứng có hiệu lực theo quy định.
Văn phòng công chứng Võ Thanh T5 không có quyền lợi hoặc nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án nêu trên nên từ chối tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa xét xử của Tòa án liên quan đến vụ án trên, không có ý kiến gì về vụ án trên.
Văn phòng công chứng Võ Thanh T5 xin được vắng mặt tại tất cả các phiên hợp, phiên hòa giải, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm (nếu có).
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ việc để xét xử sơ thẩm đến trước thời điểm nghị án. Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ việc. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H buộc ông Bùi X phải tháo dỡ 01 chuồng bò và lưới B40 trên diện tích đất 100m² thuộc thửa đất 84, tờ bản đồ 17 tại xã C, thành phố C.
+ Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi X tháo dỡ 01 chuồng bò, 01 bi đựng nước, hàng rào lưới B40 trên diện tích đất 60,1m² thuộc thửa đất 84, tờ bản đồ 17, tại xã C, thành phố C.
+ Đình chỉ đối với yêu cầu phản tố của ông Bùi X về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02181 cấp ngày 26/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ; hủy hợp đồng tặng cho ngày 29/12/2020 của bà Đ tặng cho quyền sử dụng đất cho bà H; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS037730 ngày 08/01/2021, đối với thửa đất 84, tờ bản đồ 17 tại xã C, thành phố C.
5
- Về án phí dân sự sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử dân sự sơ thẩm căn cứ Nghị quyết 326 để quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả lại quyền sử dụng đất, bị đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa thụ lý, giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 26, khoản 4 Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.
[1.2] Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ, ông Huỳnh Văn H1 và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND thành phố C đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với họ.
[1.3] Đối với các yêu cầu của bị đơn ông Bùi X theo Đơn yêu cầu phản tố về hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02181 cấp ngày 26/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ; hủy hợp đồng tặng cho ngày 29/12/2020 của bà Đ tặng cho quyền sử dụng đất cho bà H1; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 037730 ngày 08/01/2021 đối với thửa đất 84, tờ bản đồ 17 tại xã C, thành phố C: Ngày 07/5/2024, bị đơn ông X đã đơn rút toàn bộ các yêu cầu này nên đình chỉ xét xử theo quy định.
[2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Thửa đất 84, tờ bản đồ 17 diện tích 2.791,8m² tại thôn H, xã C, thành phố C đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 03730 ngày 08/01/2021. Nguồn gốc thửa đất này là do mẹ ruột bà Nguyễn Thị Đ tặng cho ngày 29/12/2020. Năm 2022 ông Bùi X tự ý xây cất 02 chuồng bò, 01 bi xi măng đựng nước trên diện tích 160,1m² nên bà H1 yêu cầu ông Bùi X tháo dỡ chuồng bò, bi nước trả lại hiện trạng cho bà.
[2.2] Theo kết quả đo vẽ hiện trạng sử dụng ngày 12/4/2024 đã thể hiện, Bùi X đã xây dựng 02 chuồng bò, bị đựng nước, hàng rào trên diện tích đất 160,1m². Trong đó, phần diện tích nằm trong phần đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1 là 60,1m² còn diện tích 100m² đất Nhà nước đã không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H1.
[2.3] Tại kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Hội đồng xét xử đã xác định, ông Bùi X đã tháo dỡ toàn bộ công trình trên đất để trả lại phần đất có diện
6
tích 60,1m², không còn lấn chiếm phần đất này của nguyên đơn nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần diện tích này.
[2.4] Đối với phần 100m² còn lại theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:
[2.4.1] Tại Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Nguyễn Thị Đ (mẹ của bà Nguyễn Thị H) kê khai diện tích đất 3.159,8m², tuy nhiên khi xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND thành phố C đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 69627, ngày 26/9/2017 đối với diện tích 2.791,8m², còn 368m² không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (gồm có 100m² đang tranh chấp nêu trên). Khi nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Đ cũng không có ý kiến gì về việc chỉ được công nhận sử dụng đất đối với diện tích 2.791,8m² chứ không phải là 3.159,8m².
[2.4.2] Tại biên bản xác minh ngày 12/4/2024, tại UBND xã C, thành phố C, thể hiện diện tích đất 380m² (trong đó có 100m² đất tranh chấp) không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất chưa sử dụng, không được công nhận quyền sử dụng đất. Và trước thời điểm xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 69627, ngày 26/9/2017, bà Đ cũng không thực hiện kê khai, đăng ký gì đối với toàn bộ lô đất xin cấp Giấy chứng nhận (bao gồm cả phần tranh chấp).
[2.4.3] Khi tiến hành tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2020 cho bà H, trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị Đ (bên tặng cho) và bà Nguyễn Thị H (bên nhận tặng cho) theo hồ sơ công chứng số 5269, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/12/2020, bà Đ cũng chỉ thực hiện tặng cho trên phần diện tích 2.791,8m² (không bao gồm phần đất 368m²).
[2.4.4] Như vậy nguyên đơn chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cũng như chưa có quyền của người sử dụng đất theo quy định đối với phần đất đất 380m² (trong đó có 100m² đất tranh chấp). Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu ông Bùi X và bà Nguyễn Thị G trả lại phần diện tích đất không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - diện tích đất 100m² mà bị đơn sử dụng đất xây dựng chuồng bò, rào lưới trên là không có căn cứ để chấp nhận.
[2.5] Đối với các tài sản, cây trồng trên đất, các đương sự đều không có yêu cầu giải quyết nên không xét.
[3] Về chi phí tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng, các đương sự đã nộp tiền chi phí tố tụng như sau:
[3.1] Đợt 1: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/12/2022 và định giá tài sản ngày 29/12/2022 với số tiền 6.054.000 đồng, do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu số tiền này. Nguyên đơn đã nộp đủ chi phí tố tụng này.
[3.2] Đợt 2: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2024, nguyên đơn và bị đơn cùng yêu cầu xem xét, thẩm định lại và thỏa thuận cùng chịu số
7
tiền này nên cùng phải thanh toán số tiền là 6.400.000 đồng. Nguyên đơn, bị đơn đã nộp đủ chi phí tố tụng này.
[3.3] Đợt 3: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 06/6/2024 (tại phiên tòa), xem xét thẩm định theo yêu cầu của bị đơn để xác định phần hiện trạng đã tháo dỡ nên bị đơn phải chịu số tiền 700.000 đồng. Bị đơn đã nộp đủ chi phí tố tụng này.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Điều 161 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự 2015;
- - Khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 92, Điều 157, Điều 161, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Bùi X phải di dời bị chứa nước, tháo dỡ 01 chuồng bò và lưới B40 trên diện tích đất 160.1m² thuộc thửa đất 84, tờ bản đồ 17 tại thôn H, xã C, thành phố C.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phản tố của ông Bùi X về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02181, cấp ngày 26/9/2017 cho bà Nguyễn Thị Đ; hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 29/12/2020 giữa bà Đ và bà H; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 037730, ngày 08/01/2021 đối với thửa đất 84, tờ bản đồ 17 tại thôn H, xã C, thành phố C.
- Chi phí tố tụng:
- - Bà Nguyễn Thị H phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 9.254.000 đồng (chín triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng), khấu trừ tạm ứng, bà H đã nộp đủ số tiền này.
- - Ông Bùi X phải chịu chi phí tố tụng là 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng) khấu trừ tạm ứng, ông X đã nộp đủ số tiền này.
- Án phí:
- - Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo
8
biên lai thu tiền số AA/2022/0000255 ngày 31/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh, bà H đã nộp đủ án phí.
H2 lại cho ông Bùi X 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số AA/2022/0000699 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |
9
Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Số bản án: 25/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà là chủ sử dụng thửa đất số 84, tờ bản đồ số 17, tại thôn Hòa Sơn, xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 814716, số vào sổ cấp GCN CS 03730, cấp cho bà Nguyễn Thị Hiệp ngày 08/01/2021. Nguồn gốc thửa đất trên là do bà được tặng cho từ mẹ là bà Nguyễn Thị Đã. Trong quá trình sử dụng đất, năm 2022, bà phát hiện ông Bùi Xy tự ý cất chuồng bò và rào lưới B40 trên phần diện tích đất của bà, bà đã nhiều lần yêu cầu ông Xy tháo dỡ nhưng ông không đồng ý, bà và ông Xy đã được Ủy ban nhân dân xã Cam Thịnh Đông, thành phố Cam Ranh hòa giải nhưng không thành. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Bùi Xy tháo dỡ các công trình trên phần diện tích đất mà nguyên đơn là chủ sở hữu, trả lại hiện trạng đất để nguyên đơn đi lại. Sau khi có kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2024, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ 02 chuồng bò, toàn bộ hàng rào, di dời bi chứa nước được xây dựng trên diện tích 160.1m2 để trả lại đất cho nguyên đơn.
