Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 25/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 15 - 11 - 2023

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội Đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Hải Thủy;

Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 233/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2023, giữa:

Nguyên đơn: Ông Đào Ngọc V, sinh năm: 1977. Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1980. Có mặt.

Cùng địa chỉ: Khu phố A, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11/10/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Đào Ngọc V trình bày:

Về hôn nhân: Ông Đào Ngọc V và bà Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn ngày 01/12/2000 tại U, thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, trước đây ông V đi làm đem tiền về đưa cho bà T để lo cho gia đình nhưng bà T đã tiêu xài, nợ nần từ gần 20 năm nay, thường xuyên có người đến nhà đòi nợ. Chính những mâu thuẫn mỗi ngày một tích tụ do bà T là người phụ nữ không căn bản, không biết chăm lo cuộc sống gia đình nên ông V cũng mất dần tình cảm với bà T. Mặc dù ở chung trong gia đình nhưng hai người đã ly thân từ năm 2017 đến nay. Trước lần khởi kiện này, ông V cũng đã từng hai lần khởi kiện xin ly hôn bà T vào năm 2022 và tháng 6/2023, nhưng sau đó đã rút đơn khởi kiện vì con cái. Ông V cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Tuyết.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Đào Văn K, sinh ngày 21/10/2001; Đào Thị Thu T1, sinh ngày 12/7/2004 và Đào Thị Thu T2, sinh ngày 19/7/2013. Ly hôn, ông V có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Thu T2 và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Cháu Văn K1 và Thu T1 đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 16/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 16/10/2023, bà Nguyễn Thị T đồng ý ly hôn ông Đào Ngọc V, nhưng tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bà T không đồng ý ly hôn. Bà T trình bày vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn là do ông Đào Ngọc V có người phụ nữ khác, vợ chồng hiện đang sống ly thân. Trường hợp ông V kiên quyết ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đào Thị Thu T2, sinh ngày 19/7/2013 và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Cháu Đào Văn K và Đào Thị Thu T1 đã thành niên nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

  • - Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho ông Đào Ngọc V được ly hôn bà Nguyễn Thị Tuyết .
  • - Về con chung: Giao cháu Đào Thị Thu T2, sinh ngày 19/7/2013 cho ông Đào Ngọc V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết cư t tại: Khu phố A, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Ông Đào Ngọc V và bà Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn ngày 01/12/2000 tại U, thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Quảng Trị. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông V và bà T là tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Theo kết quả xác minh của Tòa án tại chính quyền địa phương nơi ông V và bà T sinh sống thì vợ chồng ông V bà T có phát sinh mâu thuẫn, tuy nhiên nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn trong gia đình thì địa phương không nắm rõ. Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức nhiều phiên hòa giải để các bên khắc phục những mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình nhưng đều không thành. Ông Đào Ngọc V kiên quyết xin ly hôn, bà Nguyễn Thị T không đồng ý ly hôn, nhưng bà T không có biện pháp gì để nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà T trình bày vì bực tức ông V nên không muốn cho ông V được ly hôn.

Xét thấy, vợ chồng ông V, bà T đã sống ly thân từ nhiều năm nay, ông V cũng đã lần thứ ba khởi kiện xin ly hôn bà T. Mâu thuẫn gia đình đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đào Ngọc V.

[2.2] Về con chung:

Vợ chồng ông V, bà T có ba người con chung là Đào Văn K, sinh ngày 21/10/2001; Đào Thị Thu T1, sinh ngày 12/7/2004 và Đào Thị Thu T2, sinh ngày 19/7/2013. Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn của ông Đào Ngọc V và bà Nguyễn Thị T là hoàn toàn chính đáng. Ông V và bà T đều có nghề nghiệp, đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, cháu Đào Thị Thu T2 có ý kiến trình bày trong trường hợp bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố. Cháu T2 hiện đang ở trong gia đình cùng với bố mẹ và bà nội. Vì vậy, để đảm bảo ổn định việc học hành cũng như ổn định về tâm lý và sự phát triển toàn diện của cháu T2, nên cần giao cho ông Đào Ngọc V được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đào Thị Thu T2. Cháu Đào Văn K và Đào Thị Thu T1 đã thành niên, có khả năng tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đào Ngọc V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Ông Đào Ngọc V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Ông Đào Ngọc V ly hôn bà Nguyễn Thị T (Giấy chứng nhận kết hôn số 31 ngày 01/12/2000 tại Ủy ban nhân dân Phường U, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị).
  2. Về con chung: Giao cháu Đào Thị Thu T2, sinh ngày 19/7/2013 cho ông Đào Ngọc V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Nguyễn Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Bà Nguyễn Thị T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở thực hiện quyền này.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Ông Đào Ngọc V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông V đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số CC/2021/0000985 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Ông Đào Ngọc V đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND TP. Đông Hà;
  • - Chi cục THADS TP. Đông Hà;
  • - Đương sự;
  • - UBND Phường 3, TP. Đông Hà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đoàn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 25/2023/HNGĐ-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 25/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Ngọc V-Nguyễn Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger