|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 25/2022/DS-PT Ngày 29 -3-2022 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Ửng
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đức Thọ và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2021/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2021 về viêc̣ : “Tranh chấp quyền sử dụng đất ”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2021/DS-ST, ngày 19 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 67/2021/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sư:̣
Nguyên đơn: Ông Trần Thiện Đ; địa chỉ: Tổ dân phố 9, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Trí B; Địa chỉ: Tổ dân phố T3, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị T; địa chỉ: Tổ dân phố 9, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
- Anh Trần Thiện Đ1, sinh năm: 1983; địa chỉ: Tổ 9, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Lê Khắc O; sinh năm: 1975; Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.
- Ông Tạ Đức K; sinh năm: 1976; Địa chỉ: Tổ dân phố T3, phường Q, thành phố G, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
- Ông Phan Xuân K1; sinh năm: 1973; Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.
- Ông Trần Thiện T1; sinh năm: 1978; Địa chỉ: Tổ dân phố 8, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông - Có mặt.
- Anh Đào Văn M; sinh năm: 1981; Địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.
- Ông Đậu Bá V; sinh năm: 1960; Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đăk Nông - Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thanh L; sinh năm: 1968; Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đăk Nông; vắng mặt
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Trí B - Có mặt.
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 26/3/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Thiện Đ trình bày:
Năm 1994, gia đình ông Trần Thiện Đ có khai hoang 01 thửa đất tọa lạc tại thôn N, xã Q, thị xã G, tỉnh Đắk Nông (nay là tổ dân phố N, phường Q, thành phố G), thửa đất khoảng 3,8 ha đất rẫy và đắp sình giữ nước khoảng 01 ha, phía trên đất rẫy trồng tiêu, cà phê, điều còn phía dưới sình đắp hồ nuôi cá và dùng nước để tưới. Diện tích đất sình khai hoang là khoảng 01 ha có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất sình của ông Nguyễn Trí B (trước là của ông Trần Thiện T1); Phía Tây giáp Bờ đập do ông Trần Thiện Đ đắp; Phía Nam giáp rẫy của ông trần Thiện Đ; Phía Bắc giáp rẫy ông Lê Khắc O (nay là ông Nguyễn Trí B).
Năm 2009 do có chương trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất tập trung, gia đình ông Đ có làm hồ sơ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến năm 2011, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất rẫy là 3,8 ha, còn phần đất sình và 01 phần đất rẫy chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Năm 2014, ông Nguyễn Trí B lấn chiếm khoảng 1.600m2 đất sình, gia đình ông Đ đã yêu cầu ông B không được lấn chiếm. Đến tối ngày 13/6/2019, ông B tự ý thuê máy múc san lấp khoảng 1.300m2 phần đất hồ, ông B đổ đất lấp hồ và dựng nhà tạm trên 01 phần hồ của gia đình ông Đ, gia đình ông Đ yêu cầu chính quyền địa phương và Phòng tài nguyên môi trường thành phố giải quyết nhưng chỉ được lập biên bản mà không giải quyết.
Nay ông Trần Thiện Đ yêu cầu tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Trí B phải trả lại phần đất sình lấn chiếm To kết quả đo đạc lần đầu là 1.305m2 và tháo dỡ căn nhà trên phần đất đang lấn chiếm trả lại hiện trạng ban đầu cho gia đình ông Đ.
2. Bị đơn ông Nguyễn Trí B trình bày: Năm 2013, ông Nguyễn Trí B có nhờ anh Đào Văn M là em rể mua 01 lô đất rẫy của ông Lê Khắc O, diện tích khoảng 01 ha, đất có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất anh Nguyễn Trí B; Phía Tây giáp đất bà Lê Thị Tám; Phía Bắc giáp đất ông Cao Ngọc T6; Phía Nam giáp đất sình.
Đất tọa lạc tại thôn Nghĩa Hòa, xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (nay là tổ dân phố Nghĩa Hòa, phường Quảng Thành, thành phố Gia Nghĩa). Tại thời điểm mua đất là đất rẫy chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2016, ông B được Uỷ ban nhân dân thị xã Gia Nghĩa (nay là thành phố Gia Nghĩa) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên, là thửa đất số 10, tờ bản đồ số 62, tọa lạc tại Thôn Nghĩa Hòa, xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (nay là tổ dân phố Nghĩa Hòa, phường Quảng Thành, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông), diện tích là 9938m2. Tại giấy tờ mua bán với ông Lê Khắc O có ghi phần phía Nam giáp sình dài 96m, khi mua đất của ông O thì ông O không nói gì về phần đất sình. Ông Nguyễn Trí B khai hoang phần đất sình năm 2013, là sình nguyên sinh.
Năm 2019, ông B đưa máy múc vào múc đường và làm sân dưới chân rẫy phía Nam, bố con ông Trần Thiện Đ cản trở không cho làm và có gọi công an, địa chính phường Quảng Thành xuống làm việc. Sau khi làm việc ông Đ và con trai là Trần Thiện Đ1 đồng ý cho múc 01 hồ chạy dài từ bờ đập phía Đông xuống đến giáp ao tưới của bà Lê Thị Tám (phía tây) phần múc hồ này giáp với chân rẫy của ông B.
Năm 2020, ông B có hiến khoảng 2.600m2 đất rẫy cà phê, tiêu (phần đất rẫy mua của ông O) để làm đường. Sau khi hiến đất làm đường cùng năm 2020 ông B làm 01 nhà tạm trên phần đất sình dưới chân rẫy phía Nam, ông Đ tiếp tục gửi đơn lên phường Quảng Thành kiến nghị về việc làm nhà trái pháp của ông B.
Nay ông Trần Thiện Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Trí B phải trả lại phần đất sình lấn chiếm là 1.600m2 và tháo dỡ công trình trên phần đất đang lấn, ông B không đồng ý với ý kiến của ông Trần Thiện Đ, ông B cho rằng phần nhà tạm là ông B làm trên phần đất rẫy cà phê của ông B, mặc dù không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 10, tờ bản đồ số 62 của ông B, nhưng phần đất này nằm ở chân rẫy của ông B, đồng thời phần đất sình hiện đang tranh chấp là do ông khai phá năm 2013.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bô luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 29/2021/DS-ST ngày 29/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.
Áp dụng khoản 1 Điều 6, khoản 2 Điều 8, điểm i khoản 2 Điều 10, khoản 1 Điều 12, Điều 163, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 1 Điều 165, Điều 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thiện Đ về việc buộc ông Nguyễn Trí B phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 1.305m2 (là một phần diện tích đất của thửa 17 (SON), tờ bản đồ số 62, diện tích 32.026 m2 theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn) tọa lạc tại tổ dân phố N, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông và buộc ông Nguyễn Trí B tháo dỡ 01 nhà tạm có diện tích 06m x 8,4m trên phần đất lấn chiếm. có tứ cận cụ thể:
Phía Đông giáp đất suối của thửa 17 (hiện nay ông Nguyễn Trí B đã đào ao sử dụng); phía Tây giáp đất suối của thửa 17; phía Nam giáp đất suối của thửa 17; Phía Bắc giáp đường đi. (Có sơ đồ đo đạc kèm theo là một phần gắn liền với bản án)
2. Kiến nghị Uỷ ban nhân dân thành phố G và Uỷ ban nhân dân phường Q tăng cường công tác quản lý đất đai tại địa phương theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Thiện Đ phải chịu 20.513.284 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản. Ông Trần Thiện Đ đã nộp đủ số tiền 20.513.284 đồng tại Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Ông Trần Thiện Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0002120 ngày 07/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Trí B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại ông Nguyễn Trí B 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số: 0006018 ngày 18 tháng 10 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Tp. HCM; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa; - Chi cục THADS thành phố G; - Các đương sự; - Lưu: Tổ HCTP, HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký và đóng dấu Nguyễn Anh Ửng |
Bản án số 25/2022/DS-PT ngày 29/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 25/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/03/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sủa án sơ thẩm
