|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 25/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24/3/2021 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hướng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Chung
- 2. Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 24/3/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 797/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2021/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương T - sinh năm 1996. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Ngô Phụng T - sinh năm 1995. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Phương T trình bày: Bà và ông Ngô Phụng T kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã H, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 23/11/2017. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hiện tại bà và ông T không còn sống chung với nhau và không còn tình cảm với nhau nữa nên yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn.
Về con chung: Bà và ông T có 01 con chung tên Ngô Hoàng Gia H, sinh ngày 22/01/2018, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà T vắng mặt, tuy nhiên bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, yêu cầu Tòa án giải quyết theo đơn khởi kiện.
2. Tại bản tự khai ngày 31/12/2020, bị đơn ông Ngô Phụng T trình bày: Ông và bà Trần Thị Phương T kết hôn năm 2017. Quá trình chung sống có mâu thuẫn nhỏ, ông đồng ý ly hôn với bà T.
Con chung: Yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tài sản chung: Ông không yêu cầu giải quyết.
Ông T vắng mặt tại các buổi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, ông T vắng mặt.
3. Ý kiến của Kiểm sát viên:
+ Về tố tụng: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Bà Trần Thị Phương T và ông Ngô Phụng T kết hôn năm 2017, được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52 ngày 23/11/2017 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông T vắng mặt, chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, Tòa án đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật để tiến hành xét xử vắng mặt ông T. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị Phương T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, nguyên đơn bà Trần Thị Phương T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Ngô Phụng T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bà Trần Thị Phương T vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Phương T và ông Ngô Phụng T kết hôn năm 2017, được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52 ngày 23/11/2017. Hội đồng xét xử công nhận đây là hôn nhân hợp pháp. Bà T yêu cầu ly hôn vì cho rằng quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà và ông T hiện tại đã không còn sống chung với nhau. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông T vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân với bà T.
Hội đồng xét xử nhận thấy giữa ông T và bà T đã không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn giữa ông T và bà T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
- Về con chung: Bà T và ông Triều có 01 con chung tên Ngô Hoàng Gia H, sinh ngày 22/01/2018, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông Triều cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu H hiện tại đang ở với bà T, do đó để đảm bảo quyền lợi cho cháu H cần chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH2014 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phương T.
- - Bà Trần Thị Phương T được ly hôn ông Ngô Phụng T.
- - Về con chung: Bà Trần Thị Phương T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Ngô Hoàng Gia H, sinh ngày 22/01/2018 đến tuổi trưởng thành. Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
- Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con, khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Bà Trần Thị Phương T không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí: Bà Trần Thị Phương T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0004636 ngày 24/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã N. Bà T đã nộp đủ án phí.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thị xã N; - Chi cục THADS thị xã N; - UBND xã N (GCNKH 52/23.11.2017); - Các đương sự; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hướng |
Bản án số 25/2021/HNGĐ-ST ngày 24/03/2021 của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 25/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn
