Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 24A/2025/HNGĐ-ST

Ngày 22-01-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Nguyễn Nam Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 364/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1995; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, phường P, thành phố T (xã N, huyện T cũ), thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số D phố C, quận L, thành phố Đ, Đài Loan; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố T (xã N, huyện T cũ), thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 24/6/2013. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự thấu hiểu, đồng cảm, chia sẻ với nhau. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt kết quả. Tháng 3/2023, chị T sang Đài Loan (Trung Quốc) làm việc và anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn T1.

Về con chung: Chị T và anh T1 có hai con chung là Bùi Hải Đ, sinh ngày 31/8/2013 và Bùi Thị Kim A, sinh ngày 21/02/2015. Ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao hai con Bùi Hải Đ và Bùi Thị Kim A cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T có trách nhiệm cấp dưỡng cho anh T1 nuôi hai con, mỗi con là 15.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai, bị đơn anh Bùi Văn T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 24/6/2013. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc và có 02 con chung thì phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống và không tin tưởng nhau về tình cảm. Năm 2023, chị T sang Đài Loan (Trung Quốc) làm việc, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, không quan tâm, chia sẻ với nhau. Anh chị sống ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh và chị T có hai con chung là Bùi Hải Đ, sinh ngày 31/8/2013 và Bùi Thị Kim A, sinh ngày 21/02/2015. Do chị T đang ở nước ngoài, không có điều kiện chăm sóc con nên anh đề nghị Tòa án giao hai con Bùi Hải Đ và Bùi Thị Kim A cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh đồng ý và đề nghị chị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi hai con, mỗi con là 7.500.000 đồng/tháng; tổng cộng hai con là 15.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 01/2025 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị T và anh T1 đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn là chị Phạm Thị T hiện đang cư trú ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Bùi Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ độ tuổi kết hôn, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T (nay là phường P, thành phố T), thành phố Hải Phòng vào ngày 24/6/2013 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị T và anh T1 phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2023 chị T sang Đài Loan làm việc, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình; vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh T1 đều xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau và đều đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Vì vậy, yêu cầu của chị T xin được ly hôn với anh T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị T và anh T1 có 02 con chung là Bùi Hải Đ, sinh ngày 31/8/2013 và Bùi Thị Kim A, sinh ngày 21/02/2015. Chị T hiện đang ở nước ngoài, anh T1 là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Hai cháu Bùi Hải Đ và Bùi Thị Kim A đều có nguyện vọng được ở với anh T1. Chị T và anh T1 thống nhất giao 02 con Bùi Hải Đ và Bùi Thị Kim A cho anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng; thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con hàng tháng cho anh T1, mỗi con là 15.000.000 đồng/tháng nhưng anh T1 chỉ yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi hai con hàng tháng, mỗi con là 7.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 01/2025 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi nên cần chấp nhận yêu cầu của anh T1.

[5] Về tài sản chung: Chị T và anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị T và anh T1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 478, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

3

Căn cứ vào khoản 1 Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn anh Bùi Văn T1.

2. Về con chung: Giao hai con chung Bùi Hải Đ, sinh ngày 31/8/2013 và Bùi Thị Kim A, sinh ngày 21/02/2015 cho anh Bùi Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con là 7.500.000 (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng kể từ tháng 01 năm 2025 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T và anh Bùi Văn T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000984 ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Phạm Ngũ Lão, thành phố Thủy Nguyên (xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên cũ), thành phố Hải Phòng (ĐKKH ngày 24/6/2013);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy Khoa

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy Khoa

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24A/2025/HNGĐ-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 24A/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn T-T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger