Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 249/2024/DS-PT
Ngày 30 tháng 11 năm 2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng thuê mặt bằng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ và bà Nguyễn Ngọc Giao.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 261/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024; tranh chấp “Hợp đồng thuê mặt bằng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 273/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 2000, nơi cư trú: số F, tổ A, ấp V, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1967, nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1971, nơi cư trú: số C, C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Văn Văn H1, sinh năm 1966 và bà Trần Thị T, sinh năm 1967, cùng nơi cư trú: Tổ H, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang (ông H1, bà T có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày tại phiên tòa: Ngày 15/12/2020, bà V ký hợp đồng thuê mặt bằng với ông H1, bà T, địa điểm mặt bằng thuộc Bar đúc số 31M, C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; thời hạn thuê 05 năm (từ ngày 15/12/2020 đến ngày 15/12/2025), giá thuê 10.000.000 đồng/năm, bà V đã đăng ký kinh doanh, nộp thuế.

Ngày 15/11/2023, Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang cưỡng chế giao nhà là Bar đúc số 31M, C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, cho người mua trúng đấu giá là ông Nguyễn Văn S, sau khi được giao nhà, ông S đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê mặt bằng giữa bà V và ông H1, bà T.

Nay, bà V yêu cầu ông Nguyễn Văn S tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê mặt bằng giữa bà V và ông H1, bà T.

Bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày: Ông mua trúng đấu giá Bar đúc số 31M, C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang hợp pháp của Cục thi hành án tỉnh An Giang nên ông xin vắng mặt tham gia hòa giải và xét xử tại Tòa án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H1, bà T trình bày: Ông, bà yêu cầu Tòa án buộc ông S tiếp tục cho bà V thuê mặt bằng theo Hợp đồng thuê mặt bằng ngày 15/12/2020.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số:47/2024/DS-ST ngày 24/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc đã xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tường V.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng. Hoàn trả cho bà V 200.000 đồng theo biên lai thu số 0003194 ngày 01/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bị đơn ông Nguyễn Văn S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, thời gian yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 06/8/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tường V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Văn Văn H1, bà Trần Thị T kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, do vi phạm tố tụng, giao về cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Ông Văn Văn H1, bà Trần Thị Tâm Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; cam kết không cung cấp chứng cứ mới tại giai đoạn phúc thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

  • - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, qua trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà V, ông H1 và T, giữ y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2] Về tố tụng và thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo hợp lệ; nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tường V và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn S có đơn xin vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án kể cả hòa giải và xét xử, nên Hội đồng xét xử giải quyết theo thủ tục chung.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà V, ông H1 và bà T thì thấy;

Các đương sự tranh chấp với nhau về Hợp đồng thuê mặt bằng giữa bà Nguyễn Thị Tường V và ông Văn Văn H1 ngày 15/12/2020, mặt bằng tại số C, đường C, khóm E, phường C, thành phố C (viết tắt là Bar đúc) thì thấy;

[3.1 Bar đúc được Bản án phúc số 170/2019/DS-PT ngày 27/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2019/QĐ-BPKCTT ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc về việc “Cấm chuyển dịch về quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp”, tiếp tục được duy trì để đảm bảo quyền lợi cho đương sự trong giai đoạn thi hành án trong một vụ án khác đã có hiệu lực pháp luật.

Ngày 15/12/2020 ông Văn Văn H1 cho bà Nguyễn Thị Tường V ký hợp đồng thuê mặt bằng là Bar đúc, thời hạn 05 năm, giá thuê 10.000.000 đồng/năm, phương thức thanh toán tiền thuê vào ngày 15/12 hằng năm.

[3.2] Tại Quyết định số 454/QĐ-CTHADS ngày 11/5/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang; về việc giao tài sản cho người mua được tài sản đấu giá và Quyết định số 26/QĐ-CTHADS ngày 10/7/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang; về việc cưỡng chế trả nhà, giao nhà tọa lạc số C, đường C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang cho ông Nguyễn Văn S (người mua trúng đấu giá). Trong suốt quá trình kê biên, cưỡng chế, bán đấu giá tài sản thì bà V là người thuê mặt bằng của ông H1, bà T không có ý kiến gì về việc kê biên, cưỡng chế giao tài sản cho ông S.

[3.3] Việc ông Nguyễn Văn S mua trúng đấu giá tài sản và nhận tài sản từ Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang là hợp pháp. Bà V yêu cầu ông S tiếp tục thực hiện hợp đồng thuê mặt bằng giữa bà và ông H1, bà T là không có căn cứ chấp nhận theo Điều 91 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 và Điều 472 Bộ luật Dân sự 2015.

[4] Trong vụ án này, phải yêu cầu nguyên đơn khởi kiện ông H1, bà T về tranh chấp “Hợp đồng thuê tài sản”, ký kết ngày 15/12/2020 có thời hạn 5 năm kể từ ngày ký kết đến ngày 15/12/2025); chủ thể tham gia ký kết hợp đồng thuê là bên thuê bà Nguyễn Thị Tường V với bên cho thuê là ông Văn Văn H1, tại thời điểm này tài sản vẫn còn quyền sở hữu của ông Văn Văn H1; có trước Quyết định số 26/QĐ-CTHADS ngày 10/7/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang; về việc cưỡng chế trả nhà, giao nhà tọa lạc số C, đường C, khóm E, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang cho ông Nguyễn Văn S (người mua trúng đấu giá). Khi đó xác định ông Nguyễn Văn S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới đúng quy định của pháp luật. Khi giải quyết có thể “Hủy bỏ hợp đồng thuê tài sản” (nếu các đương sự không có thỏa thuận nào khác) theo Điều 423 Bộ luật dân sự và giải quyết hậu quả của Hợp đồng việc hủy bỏ theo Điều 427 Bộ luật dân sự; mới giải quyết triệt để vụ án.

Đáng lý ra cần hủy án sơ thẩm, để giải quyết lại theo thủ tục chung; xét thấy cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng chưa ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự. Do đó, bà Nguyễn Thị Tường V được quyền khởi kiện lại ông Văn Văn H1 bằng vụ án khác về việc yêu cầu “Hủy bỏ hợp đồng thuê tài sản”, do không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng (do tài sản thuộc sở hữu của ông S), khi các đương sự có yêu cầu. Cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm chung.

Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tường V, ông Văn Văn H1, bà Trần Thị T phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 điều 148; điều 289; điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tường V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn Văn H1, bà Trần Thị T.

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 47/2024/DS-ST ngày 26/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc đã xử:

  • Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tường V.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tường V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng. Hoàn trả cho bà V 200.000 đồng theo biên lai thu số 0003194 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bị đơn ông Nguyễn Văn S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Tường V, ông Văn Văn H1 và bà Trần Thị T mỗi người phải chịu 300.000đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí án đã nộp theo các biên lai thu số 0003946; biên lai thu số 0003947 và biên lai thu số 0003948 cùng ngày 01/8/2024, các biên lai của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (1)
  • - VKSND.AG (1)
  • - TAND huyện (1)
  • - THA huyện (1).
  • - Toà Dân sự (2)
  • - Văn phòng.(1)
  • - Phòng KTNV & THA (1)
  • - Đương sự “ Để thi hành”
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/DS-PT ngày 30/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng

  • Số bản án: 249/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng thuê mặt bằng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà V kiện ông S yêu cầu tiếp tục hợp đồng thuê
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger