|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 249/2024/HNGĐ-ST Ngày 29 - 7 - 2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh
Bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, kết nối với điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 340/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 254/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Võ Huy T, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; hiện đang ở Cộng hòa Liên bang Đ; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phan Thị Thu T1, sinh năm 1998 và bà Nguyễn Thị Lệ T2, sinh năm 1992; địa chỉ liên hệ: Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh N, số I, đường N, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Võ Huy T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị Hòa kết h với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2001 tại UBND xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Quá trình sống chung, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung do bất đồng về quan điểm sống dẫn đến thường xuyên mâu thuẫn với nhau. Năm 2018, chị H đi sang nước Rumani làm việc, năm 2019 thì chị H sang Đ làm việc và sinh sống cho đến nay. Từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Võ Thị Phương T3, sinh ngày 01/5/2002; cháu Võ Huy C, sinh ngày 18/10/2003 và cháu Võ Thị Phương V, sinh ngày 08/01/2012. Nay ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Võ Thị Phương V, sinh ngày 08/01/2012 không yêu cầu chị H cấp dưỡng. Hai cháu Võ Thị Phương T3 và Võ Huy C đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung:
+ Về tài sản chung: Vợ chồng có tài sản chung là đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 690 tờ bản đồ số 14, diện tích 543 m² tại xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An, tài sản này vợ chồng được ông bà cho từ năm 2016. Ly hôn đề nghị Tòa án chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
+ Về nợ chung: Năm 2017 chị H có vay vốn tại Ngân hàng N chi nhánh huyện Y, tỉnh Nghệ An tại hợp đồng tín dụng số: 3606LAV-201710421 với số tiền vay 100.000.000 đ (Một trăm triệu đồng). Đến ngày 20/6/2024 chị H đã thực hiện tất toán toàn bộ số tiền vay với tổng số tiền 131.050.000 đồng trong đó: Số tiền gốc là 100.000.000 đồng, số tiền lãi 31.050.000 đồng. Ngân hàng đã làm thủ tục trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD960678 cho gia đình. Hiện nay, vợ chồng không có nợ chung.
Theo bản tự khai, đơn đề nghị vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị Xuân H và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phan Thị Thu T1:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H thừa nhận về thời gian, địa điểm kết hôn, mâu thuẫn gia đình như anh T trình bày. Nay anh T nộp đơn đề nghị ly hôn thì chị đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung như anh T trình bày. Hai cháu Võ Thị Phương T3 và Võ Huy C đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Võ Thị Phương V, sinh ngày 08/01/2012 không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Do chị H đang ở nước ngoài nên đề nghị tạm giao cháu V cho bà Nguyễn Thị Đ1 (là bà ngoại của cháu V hiện trú tại xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An) chăm sóc nuôi dưỡng, mọi chi phí sinh hoạt chị H sẽ chu cấp.
- Về tài sản chung, nợ chung:
+ Về tài sản chung: Năm 2009, vợ chồng chị được bố mẹ chồng cho tặng thửa đất diện tích 500 m² tại xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An và đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2019, ngôi nhà cấp 4 do bố mẹ chồng xây dựng đã xuống cấp nên vợ chồng đã tu bổ lại, xây dựng mới ngôi nhà cấp 4, 2 gian và các công trình phụ khác. Đề nghị Tòa án chia thửa đất chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật.
+ Về nợ chung: Số tiền gốc là 100.000.000 đồng chị H vay nợ của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện N hiện dã tất toán xong cả gốc và lãi ngày 20/6/2024. Hiện nay, vợ chồng không có nợ chung.
Ngân hàng N, chi nhánh huyện Y, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn Đ2 trình bày:
Năm 2017 gia đình bà Nguyễn Thị Xuân H và ông Võ Huy T đã sử dụng quyền sử dụng đất số CD960678 để thực hiện vay vốn tại Ngân hàng N chi nhánh huyện Y, tỉnh Nghệ An tại hợp đồng tín dụng số: 3606LAV-201710421 với số tiền vay 100.000.000 đ (Một trăm triệu đồng). Đến ngày 20/6/2024 khách hàng đã thực hiện tất toán toàn bộ số tiền vay với tổng số tiền 131.050.000 trong đó: Số tiền gốc là 100.000.000 đồng, số tiền lãi 31.050.000 đồng.
Sau khi thực hiện tất toán khoản vay thì A đã làm thủ tục trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD960678 cho khách hàng vay cụ thể là có sự chứng kiến của ông Võ Huy T và bà Phan Thị Thu T1 là đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Xuân H. Vì vậy hiện nay ông Võ Huy T và bà Nguyễn Thị Xuân H không còn bất kỳ nghĩa vụ liên quan nào đến việc vay vốn tại A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người tham gia tố tụng khác thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 73, 73, 86 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Võ Huy T và chị Nguyễn Thị Xuân H được ly hôn.
Về con chung: Đối với các cháu Võ Thị Phương T3, Võ Huy C đã trưởng thành, anh T và chị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét. Giao cháu Võ Thị Phương V, sinh ngày 08/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Xuân H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu V đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm giao cháu Võ Thị Phương V cho anh Võ Huy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị H đang ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho nguyên đơn do bị đơn chưa yêu cầu.
Về tài sản chung của vợ chồng: Đề nghị căn cứ vào khoản 2, 3 và 5 Điều 59, khoản 2 Điều 62 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình áp dụng chế độ tài sản theo luật định để chia tài sản.
Vợ nợ chung của vợ chồng: không xem xét.
Về chi phí thẩm định, định giá chị H tự nguyện chịu chi phí này nên miễn xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 7, Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo của các đương sự được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Võ Huy T hiện cư trú tại tỉnh Nghệ An, bị đơn chị Nguyễn Thị Xuân H hiện đang cư trú tại C liên bang Đ. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bị đơn chị Nguyễn Thị Xuân H vắng mặt và có đơn đề nghị vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của chị H có mặt; Căn cứ khoản 1, 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Ngân hàng N hiện không có yêu cầu gì liên quan đến vụ án; các bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong nợ chung nên Tòa án không đưa Ngân hàng vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Võ Huy T và chị Nguyễn Thị Xuân Hòa kết h1 với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, chị H đang sinh sống làm việc ở tại Cộng hòa liên bang Đ, anh T ở Việt Nam, hai bên không còn quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Anh T có nguyện vọng được ly hôn với chị H. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh T được ly hôn với chị H là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 3 con chung gồm: Võ Thị Phương T3, sinh ngày 01/5/2002; cháu Võ Huy C, sinh ngày 18/10/2003 và cháu Võ Thị Phương V, sinh ngày 08/01/2012. Hai cháu Võ Thị Phương T3 và Võ Huy C đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Võ Thị Phương V, sinh ngày 08/01/2012 thì anh T và chị H đều có nguyện vọng giao cho chị H nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng cháu V, nên cần chấp nhận. Tuy nhiên, xét thấy tại thời điểm này chị H chưa thể về Việt Nam nên các bên thống nhất tạm giao cháu V cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp, ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận của các bên. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:
[2.3.1] Về tài sản chung: Anh T và chị H đều thừa nhận vợ chồng có tài sản chung là đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 690 tờ bản đồ số 14, diện tích 543 m² tại xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Thửa đất này có nguồn gốc là bố mẹ chồng cho anh T, chị H và đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2016. Năm 2019, ngôi nhà cấp 4 do bố mẹ chồng xây dựng đã xuống cấp nên vợ chồng đã tu bổ lại, xây dựng mới ngôi nhà cấp 4, 2 gian và các công trình phụ khác. Ly hôn, anh T và chị H đều nghị Tòa án chia đôi tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì thửa đất trên có diện tích 543 m² (200m² đất ở và 343m² đất vườn), các tài sản trên đất bao gồm 01 ngôi nhà cấp bốn 03 gian, nhà bếp, nhà tắm, sân láng vữa xi măng, mái tôn, nhà kho. Đối với đất Hội đồng định giá xác định đất ở có giá 1.000.000 đồng/1m², đất vườn có giá 500.000 đồng/1m², tổng giá trị đất 371.500.000 đồng. Các tài sản trên đất gồm: Nhà cấp 4 trị giá 50.000.000 đồng; nhà bếp trị giá 10.000.000 đồng; nhà tắm và nhà vệ sinh trị giá 7.000.000 đồng; sân láng vữa xi măng trị giá 2.820.000 đồng; mái tôn trị giá 13.680.000 đồng; nhà kho trị giá 1.000.000 đồng.
Như vậy tổng tài sản chung của anh T và chị H là 456.000.000 đồng.
Anh T và chị H đều thống nhất chia đất và ưu tiên anh T phần nhiều hơn do nguồn gốc tài sản do bố mẹ chồng cho tặng vợ chồng khi đang sống hạnh phúc; tài sản trên đất không yêu cầu phân chia mà thuộc về phần đất được chia của người nào thì người đó được hưởng. Khi phân chia đất thì tài sản trên đất không còn nguyên vẹn nên hai bên có trách nhiệm phối hợp với nhau để tháo dỡ tài sản trên đất để giao đất cho bên kia.
Xét thấy, cần giao cho chị H phần đất có diện tích 212 m² (trong đó có 80 m² đất ở) và tài sản trên đất có chiều rộng bám đường bê tông 7m trị giá 146.000.000 (Một trăm bốn mươi sáu triệu) đồng; giao cho anh T phần đất có diện tích 331 m², (trong đó có 120 m² đất ở) trị giá 225.500.000 (Hai trăm hai mươi lăm triệu, năm trăm nghìn) đồng và tài sản trên đất có chiều rộng bám đường bê tông 12 m là phù hợp. (Có sơ đồ kèm theo bản án)
[2.3.2] Về nợ chung: Hai bên đã giải quyết xong, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Nguyên đơn, bị đơn có nghĩa vụ đến cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để đăng ký việc sử dụng đất theo đúng quy định.
[4] Về án phí và chi phí tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá là 9.000.000 (Chín triệu) đồng. Nguyên đơn đồng ý chịu chi phí này và đã thanh toán xong.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40; khoản 1, 2 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 56; Điều 59; Điều 62; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Võ Huy T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Võ Huy T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Xuân H.
- Về con chung: Giao cháu Võ Thị Phương V, sinh ngày 08/01/2012 cho chị Nguyễn Thị Xuân H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu V đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm giao cháu Võ Thị Phương V cho anh Võ Huy T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị H đang ở nước ngoài.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác khi có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chia thửa đất số 690 tờ bản đồ số 14, diện tích 543 m² (200m² đất ở và 343m² đất vườn) tại xóm Đ, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An cho chị Nguyễn Thị Xuân H và anh Võ Huy T như sau:
Giao cho chị Nguyễn Thị Xuân H phần đất có diện tích 212 m² (trong đó có 80 m² đất ở, 132 m² đất vườn) có tứ cận phía bắc giáp thửa đất số 628, 627, phía đông giáp phần đất được giao cho anh Võ Huy T (ký hiệu S2), phía Nam giáp đường bê tông xóm, phía Tây giáp thửa đất số 689 được định vị bởi các điểm 1, 10, 11, 5, 6, 7, 8, 9, 1 và tài sản trên đất có chiều rộng bám đường bê tông 7m trị giá 146.000.000 (Một trăm bốn mươi sáu triệu) đồng.
Giao cho anh Võ Huy T phần đất có diện tích 331 m², (trong đó có 120m² đất ở, 211 m² đất vườn) có tứ cận phía Bắc giáp thửa đất số 628, phía Đông giáp thửa đất số 692, phía Nam giáp đường bê tông xóm, phái Tây giáp phần đất được giao cho chị Nguyễn Thị Xuân H (ký hiệu S1) được định vị bởi các điểm 10, 2, 3, 4, 11, 10 trị giá 225.500.000 (Hai trăm hai mươi lăm triệu, năm trăm nghìn) đồng và tài sản trên đất có chiều rộng bám đường bê tông 12 m là phù hợp.
(Có sơ đồ kèm theo bản án).
Các bên có nghĩa vụ đến cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để đăng ký việc sử dụng đất theo đúng quy định.
2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc anh Võ Huy T phải chịu 75.000 (Bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 11.275.000 (Mười một triệu hai trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí chia tài sản nhưng được khấu trừ 2.800.000 (Hai triệu tám trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012329 ngày 01 tháng 12 năm 2022. Số tiền án phí anh T còn phải nộp là 8.550.000 (Tám triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng.
Buộc chị Nguyễn Thị Xuân H phải chịu 75.000 (Bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 7.300.000 (Bảy triệu một trăm nghìn) đồng án phí chia tài sản chung. Tổng án phí chị H phải nộp là 7.375.000 (Bảy triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.
3. Anh Võ Huy T có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Nguyễn Thị Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 249/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 249/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa H và T
