Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 249/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Cổn.
  2. Bà Nguyễn Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 255/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô Văn Đ, sinh năm 1982, tại tỉnh Cà Mau. Nơi ĐKHKTT: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nơi ở hiện nay: khu phố F, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn Q và bà Tô Thị X; vợ: Đặng Kim V (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/5/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án hình sự phúc thẩm số 62/2010/HSPT; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/3/2024 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

2. Họ và tên: Trần Văn T, sinh năm 1990, tại tỉnh Long An. Nơi ĐKHKTT: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: công nhân; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Tuấn E và bà Trần Thị X1; vợ: Tô Thị Hồng N, có 02 con (lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018); tiền án (01): ngày 29/7/2009, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 12 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 99/2009/HSST; tiền sự: không; nhân thân: ngày 24/01/2013, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo bản án hình sự sơ thẩm số 06/2013/HSST; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/3/2024 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Trường D, sinh năm 1982; nơi đăng ký thường trú: ấp D, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nơi ở hiện nay: khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Tô Thị X, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; có mặt.
  • Tô Thị Hồng N, sinh năm 1992; nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; có mặt.
  • Ông Ngô Vủ L, sinh năm 1991; nơi cư trú: khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  • Trần Thị L1, sinh năm 1988; ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt.

Người làm chứng: ông Nguyễn Viết T1 (có mặt); bà Nguyễn Thị Hoài D1, bà Nguyễn Thị Hoài D2, ông Nguyễn Văn Đ1, ông Nguyễn Văn C, ông Trần Quốc B; (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn ĐTrần Văn T là bạn bè với nhau, cùng ở trọ tại khu vực phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương để đi làm thuê. Khoảng 10 giờ ngày 24/3/2024, Được và T tham gia uống bia cùng Trần Quốc B, Nguyễn Viết T1, Nguyễn Văn Đ1, Thái Văn N1 và Đ2 (chưa rõ lai lịch) tại khu vực vườn tràm phía sau dãy nhà trọ T, cạnh đường DA1-1 thuộc khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương (nơi B thuê ở). Cùng thời gian này, Nguyễn Trường D, Nguyễn Thị H, Nguyễn Chí C1, Nguyễn Thị Hoài D2Nguyễn Thị D1 cũng tổ chức uống bia và hát karaoke bằng loa kẹo kéo cách chỗ nhóm của T và Đ ngồi khoảng 15 mét. Trong lúc uống bia, nhóm của Được có mời nhóm của ông D giao lưu uống bia.

Khoảng 13 giờ 30 phút, T điều khiển xe mô tô biển số biển số 61R1-4899 chở Đ2 đi về trước. Đến khoảng 14 giờ, do nhóm của ông D hát karaoke lớn nên nhóm của Đ dừng uống bia. Được đi qua chỗ nhóm của D nói mở loa nhỏ lại thì Đ và ông D phát sinh mâu thuẫn. Do trước đó, Được có mời ông D uống bia nhưng D không uống nên Được bực tức và sử dụng điện thoại di động Oppo A3s gắn sim số 0566.123.456 gọi điện thoại cho T rủ T quay lại cùng đánh ông D thì T đồng ý. Khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 61R1-4899 quay lại dựng phía trước nhà trọ T3. T mở yên xe lấy 01 con dao tự chế dài khoảng 80cm (có sẵn trong xe) rồi cùng Đ đi đến chỗ nhóm của ông D tìm ông D nhưng không thấy (do ông D đi vệ sinh gần đó) nên ĐT đi vào phía bên trong nhà trọ T3 để tìm. Khoảng 01 phút sau, ông D quay lại chỗ nhóm của mình uống bia thì ĐT cũng đi từ bên trong dãy trọ ra đến. Được liền xông tới dùng tay đấm vào đầu, mặt của ông D, còn T cầm dao giơ chém trúng trán phải của ông D 01 cái. Ông D quay lưng lại chạy thì bị T chém 02 cái vào vùng lưng, còn Đ dùng tay đánh làm ông D bị vấp và té ngã xuống đất. Lúc này, những người xung quanh can ngăn, ĐT bỏ đi về. Sau đó, ông D được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ3 rồi chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để điều trị. Sau khi vụ việc xảy ra, Công an phường M tiếp nhận nguồn tin và chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ của Trần Văn T: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong máy có sim thuê bao số 0945.575.024; 01 áo thun không cổ áo, ngắn tay, màu xám, nhãn hiệu Hot-Boy D&S; 01 quần lửng kaki màu rêu xanh, nhãn hiệu Gap Denim; 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu xanh đen, biển số 61R1-4899, số khung 65609, số máy: 5259349.

Vật chứng thu giữ của Ngô Văn Đ: 01 điện thoại di động Oppo A3s, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong máy có sim thuê bao số 0566.123.456; 01 áo sơ mi trắng, không rõ nhãn hiệu, phía trước ngực có thêu hình con rồng màu nhũ đồng; 01 quần lửng vải màu trắng, không có nhãn hiệu; 01 nón lưỡi trai màu trắng, nhãn hiệu Nón sơn; 01 xe mô tô hiệu Honda Nouvo, màu đỏ đen, biển số 69F1-041.76, số máy 395723, số khung 395720.

Theo Kết luận giám định số 2256 ngày 10/4/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Sẹo vùng trán phải: 04%, nứt sọ trán phải: 08%, M tụ ngoài màng cứng: 13%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Trường D tại thời điểm giám định là 23%. Thương tích của Nguyễn Trường D phù hợp do vật sắc tác động gây ra.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade, màu xanh đen, biển số 61R1-4899 do ông Ninh Văn C2 (sinh năm 1968; nơi thường trú: Khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/12/2017, ông C2 bán xe cho ông Nguyễn Anh D3 (sinh năm 1967; nơi thường trú: Khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Sau đó, ông D3 bán xe cho bà Trần Thị L1 là chị của Trần Văn T. Khoảng tháng 02/2024, bà L1 cho T mượn xe để sử dụng. Ngày 21/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả xe cho bà Trần Thị L1.

Đối với xe mô tô hiệu Honda Nouvo, màu đỏ đen, biển số 69F1-041.76 do ông Ngô Vủ L là chú của Ngô Văn Đ đứng tên chủ sở hữu. Ngày 24/3/2024, ông L cho Đ mượn xe để sử dụng. Ngày 21/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giao trả xe cho ông Ngô Vủ L.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 02/6/2024, bà Tô Thị X là mẹ của Ngô Văn Đ và bà Tô Thị Hồng N là vợ của Trần Văn T đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn T2 Danh số tiền 40.000.000 đồng. Ông D không yêu cầu giải quyết gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Ngô Văn ĐTrần Văn T.

Cáo trạng số 261/CT-VKSBC ngày 13/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Văn T, Ngô Văn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ mức hình phạt từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn T mức hình phạt từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù.

- Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát quyết định:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo A3s, màu đen, đã qua sử dụng là phương tiện phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0945.575.024; 01 sim số 0566.123.456; 01 áo thun không cổ áo, ngắn tay, màu xám, nhãn hiệu Hot-Boy D&S; 01 quần lửng kaki màu rêu xanh, nhãn hiệu Gap Denim; 01 áo sơ mi trắng, không rõ nhãn hiệu, phía trước ngực có thêu hình con rồng màu nhũ đồng; 01 quần lửng vải màu trắng, không có nhãn hiệu và 01 nón lưỡi trai màu trắng, nhãn hiệu Nón sơn.

- Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa đều không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi của bản thân, nhận thức được việc vi phạm pháp luật mà các bị cáo đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo thành công dân tốt, chăm lo gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 24/3/2024, tại khu vực vườn tràm phía sau nhà trọ T3, thuộc khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương, tuy không có mâu thuẫn trực tiếp với bị hại nhưng Ngô Văn Đ đã cùng Trần Văn T có hành vi vô cớ dùng dao (là hung khí nguy hiểm) tấn công liên tiếp 03 lần vào cơ thể bị hại Nguyễn Trường D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 23% (hai mươi ba phần trăm). Do đó, hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đối với các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hung hăng mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà mỗi bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Vụ án mang tính chất đồng phạm, trong đó bị cáo Đ là người nảy sinh ý định tìm bị hại đánh, T là người trực tiếp dùng hung khí chém bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ nhân thân, vai trò từng bị cáo mà áp dụng mức hình phạt tương xứng.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T có 01 tiền án, chưa được xóa án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân đồng thời đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Căn cứ nhân thân, vai trò từng bị cáo, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghi là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Do gia đình các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại, bị hại không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, đã qua sử dụng, máy trầy xước, Model TA-1034 (không kiểm tra được số Imei, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 điện thoại di động Oppo A3S, màu đen, đã qua sử dụng (không kiểm tra được Model, số I, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0945.575.024 (số I: 11613611977); 01 sim số 0566.123.456 (số I: 1611323082); 01 áo thun không cổ áo, ngắn tay, màu xám, nhãn hiệu Hot-Boy D&S; 01 quần lửng kaki màu rêu xanh, nhãn hiệu Gap Denim; 01 áo sơ mi trắng, không rõ nhãn hiệu, phía trước ngực có thêu hình con rồng màu nhũ đồng; 01 quần lửng vải màu trắng, không có nhãn hiệu; 01 nón lưỡi trai màu trắng, nhãn hiệu nón S.

[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn Đ, Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Ngô Văn Đ 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2024.
    2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét, giải quyết.
  4. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, đã qua sử dụng, máy trầy xước, Model TA-1034 (không kiểm tra được số Imei, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động Oppo A3S, màu đen, đã qua sử dụng (không kiểm tra được Model, số I, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được).

    Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0945.575.024 (số I: 11613611977); 01 sim số 0566.123.456 (số I: 1611323082); 01 áo thun không cổ áo, ngắn tay, màu xám, nhãn hiệu Hot-Boy D&S; 01 quần lửng kaki màu rêu xanh, nhãn hiệu Gap Denim; 01 áo sơ mi trắng, không rõ nhãn hiệu, phía trước ngực có thêu hình con rồng màu nhũ đồng; 01 quần lửng vải màu trắng, không có nhãn hiệu; 01 nón lưỡi trai màu trắng, nhãn hiệu nón S.

    (Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/9/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát và Công an thành phố B).

  5. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng hồ sơ-Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 249/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đ cùng đồng phạm cố ý gây thương tich1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger