|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 249/2024/HS-ST Ngày: 13/12/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Văn Vinh
- 2. Bà Trương Thị Thái
Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký TAND huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 248/2024/HSST ngày 15/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HS ngày 19/11/2024 đối với bị cáo:
TRẦN NGỌC S, sinh năm 1987; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam;
ĐKHK: Thôn H, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: không xác định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: tự do; Văn hoá: 10/12; con ông Trần Đình S1; con bà Trần Thị T (c); Vợ: Đặng Thị Hiền O; có 02 con sinh các năm 2008, 2010; Danh chỉ bản: 000000463, lập ngày 09/7/2024, Công an huyện T; Tiền án, tiền sự: không: Nhân thân: có 02 tiền án đã xóa án, cụ thể: Bản án phúc thẩm số 779/HSPT/2013 ngày 08/10/2013, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”; Bản án số 190/2018/HSST ngày 23/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì - Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - ra trại ngày 20/7/2020; Vụ án này, bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi liên quan:
- Anh Nguyễn Vân H, sinh năm 1989; Trú tại: số nhà B, ngõ B, tổ D phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
- Chị Đặng Thị Hiền O, sinh năm 1986; Trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
Người làm chứng:
Anh Đặng Minh T1, sinh năm 1991; Trú tại: ngõ H, Cầu B, xã T, huyện T, Thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng trưa ngày 29/6/2024 và sáng ngày 30/6/2024, Trần Ngọc S đến khu vực Ngõ 4, Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội gặp và mua của 01 người đàn ông tên H1 100 viên ma túy “ngựa” với giá 3.800.000 đồng và 01 túi ma túy “đá” với giá 3.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S mang về nhà sử dụng hết một ít ma túy “đá” và 06 viên ma túy “ngựa” số còn lại S cất giữ để bán lại kiếm lời.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/7/2024, anh Nguyễn Vân H sử dụng số thuê bao 0974573674 gọi điện đến số thuê bao 0974697883 của S để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, S đồng ý bán ma túy và yêu cầu H chuyển trước tiền vào tài khoản số 0974697883 của S mở tại ngân hàng M. Sau đó, S lấy túi ma túy đá và dùng tờ tiền polyme cuộn tròn rồi xúc lấy số ma túy đá trong túi ước lượng tương đương với số tiền H hỏi mua và cho vào 01 túi nilong nhỏ. Sau đó, S cất tất cả số ma túy vào trong túi màu đen đeo chéo của mình và điều khiển xe máy Honda Dream BKS: 30K5-4604 đi một mình đến gặp H để giao ma túy như đã hẹn.
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 01/7/2024, Tổ công tác Công an xã T, Công an huyện T, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ H Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội phát hiện Trần Ngọc S đang ngồi trên xe máy Honda Dream màu nâu BKS: 30K5 - 4604 và Nguyễn Vân H đang ngồi trên xe máy Honda Vision màu đen đỏ BKS: 29X7 - 622.71 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Tại chỗ, S lấy trong túi đeo chéo trên người ra 01 túi nilon kích thước (03x05)cm bên trong có chứa 64 viên nén màu đỏ; 03 túi nilon kích thước (02x02)cm bên trong mỗi túi có chứa 10 viên nén màu đỏ; 01 túi nilon kích thước (03x05)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon kích thước (01x02)cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác và tự khai nhận các viên nén màu đỏ là ma tuý “ngựa”, tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon đều là ma túy “đá” S mang theo để bán. Trong số ma túy mang theo, S sẽ bán cho Nguyễn Vân H 01 túi ma túy đá kích thước (01x02)cm với giá 500.000 đồng nhưng chưa kịp giao ma túy cho H thì bị Cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Nguyễn Vân H khai nhận trước đó đã chuyển khoản cho S số tiền 500.000 đồng để mua ma túy đá và đang chuẩn bị nhận túi ma túy đá từ S. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa S, H về trụ sở để làm rõ.
Ngoài ra tổ công tác đã tạm giữ của S: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 20 Ultra màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A60 màu xanh; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 30K5 – 4604; 01 túi xách đeo chéo giả da màu đen. Tạm giữ của H: 01 điện thoại Samsung J6 vỏ màu đen; 01 chiếc xe máy Honda Vision màu đen, đỏ BKS 29X7 – 622.71.
Xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Trần Ngọc S và Nguyễn Vân H, kết quả: Trần Ngọc S và Nguyễn Vân H đều dương tính với chất ma túy.
Ngày 01/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy đã thu giữ của Trần Ngọc S. Tại bản Kết luận giám định số 5602/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận:
- - 64 viên nén màu đỏ bên trong 01 túi nilong kích thước (3x5)cm và 30 viên nén màu đỏ bên trong 03 túi nilong kích thước (2x2)cm đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 10,171 gam.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước (3x5)cm là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 5,369 gam.
- - Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong kích thước (1x2)cm là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,598 gam.
Cơ quan giám định đã sử dụng 0,644 gam trong tổng số 10,171 gam ma túy Methamphetamine dạng viên nén màu đỏ và 0,481 gam ma túy Methamphetamine dạng tinh thể màu trắng trong tổng số 5,967 gam ma túy Methamphetamine dạng tinh thể màu trắng để làm mẫu giám định, còn lại 9,527 gam Methaphetamine dạng viên nén màu đỏ và 5,486 gam Methaphetamine dạng tinh thể màu trắng hoàn lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, Trần Ngọc S còn khai nhận: ngoài ngày 01/7/2024, S còn bán ma túy cho H một lần trước đó vào ngày 26/6/2024 cũng tại ngõ 8, Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội. S bán cho H 300.000 đồng ma túy đá, nhưng H chỉ chuyển khoản cho S số tiền 273.000 đồng, số tiền còn thiếu thì H xin S. Ngoài bán ma túy cho H, S còn bán ma túy cho một vài người khác nhưng S không nhớ tên tuổi, địa chỉ của những người đó. Lời khai của Nguyễn Vân H phù hợp với lời khai của Trần Ngọc S và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với người tên H1 đã bán ma túy cho Trần Ngọc S, S khai không biết rõ tên tuổi và địa chỉ của người này, cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải S chỉ địa điểm và tiến hành rà soát nhưng chưa phát hiện được đối tượng bán ma túy cho S. Do đó, Cơ quan Điều tra không có căn cứ để làm rõ và xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Vân H, ngày 28/10/2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Vân H theo quy định tại Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính Phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực ANTT với mức phạt 1.500.000 đồng.
Đối với 01 chiếc xe máy Honda Vision màu đen, đỏ BKS: 29X7-622.71 tạm giữ của Nguyễn Vân H, quá trình xác minh xác định chiếc xe thuộc sở hữu của anh Nguyễn Xuân T2 là bạn xã hội của H. Ngày 01/7/2024, anh T2 cho H mượn xe để sử dụng và không biết H sử dụng xe để đi mua ma túy. Ngày 03/7/2024, Công an xã T đã trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn T3. Anh Nguyễn Văn T3 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Quá trình điều tra, xác định: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 20 Ultra màu trắng là tài sản của S và không liên quan đến hành vi phạm tội; chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 30K5 – 4604 là tài sản của chị Đặng Thị Hiền O là vợ của Trần Ngọc S. Ngày 01/7/2024, chị O cho S mượn xe để sử dụng và không biết việc S sử dụng xe để đi bán ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A60 màu xanh, 01 chiếc túi đeo chéo giả da màu đen tạm giữ của S và 01 chiếc điện thoại Samsung J6 tạm giữ của Nguyễn Vân H là tài sản của S và H có liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Ngọc S.
Tại bản cáo trạng số 245/CT-VKSTT ngày 15/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Trần Ngọc S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b,i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Ngọc S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Chị Đặng Thị Hiền O không biết S sử dụng xe để đi mua bán ma túy, chị O xin lại chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS 30K5 – 4604 để sử dụng.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Ngọc S theo tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản Cáo trạng số 245/CT-VKSTT ngày 15/11/2024 và đề nghị áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 11 năm tù đến 11 năm, 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và 01 chiếc túi đeo chéo giả da màu đen. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động OPPO A60 màu xanh của bị cáo S và 01 chiếc điện thoại Samsung J6 của Nguyễn Vân H. Trả lại cho bị cáo S 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 20 Ultra màu trắng. Trả lại cho chị Đặng Thị Hiền O chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS 30K5 – 4604.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 26/6/2024 tại khu vực ngõ 8, Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội, Trần Ngọc S đã bán cho Nguyễn Vân H 01 gói ma túy với giá 273.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/7/2024, Trần Ngọc S đã đồng ý bán cho Nguyễn Vân H 01 gói ma túy đá (Methamphetamine dạng tinh thể màu trắng) và đã nhận của Nguyễn Vân H 500.000 đồng chuyển khoản và hẹn H ra nhận ma túy. Khoảng 15 giờ cùng ngày, như đã hẹn H, S mang theo 16,138 gam ma túy loại Methamphetamine dạng viên nén màu đỏ và tinh thể màu trắng đến ngõ 8, Cầu B, xã T, huyện T, Hà Nội để bán kiếm lời và giao ma túy cho H, khi S đang định giao ma túy cho H thì bị Tổ công tác Công an xã T, Công an huyện T bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi của Trần Ngọc S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt quy định tại điểm b,i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Trách nhiệm hình sự và hình phạt: Bị cáo S đã từng 02 lần phải chấp hành hình phạt về các loại tội, trong đó có tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, như vậy bị cáo đã có đủ năng lực, nhận thức để biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bị cáo đã mua ma túy về để bán cho các đối tượng nghiện khác thu lợi. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi chủ quan, cố ý, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, xâm hại đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm hại đến trật tự an toàn xã hội. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án tuy đã được xóa án nhưng thể hiện nhân thân xấu. Do vậy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt. Hạn tù của bị cáo kể từ ngày bắt quả tang 01/7/2024. Xét bị cáo hiện đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Tang vật vụ án và án phí: Đối với toàn bộ số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và 01 túi đeo đen của bị cáo là phương tiện và ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cho tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo và anh Nguyễn Vân H là phương tiện các đối tượng liên lạc để mua bán ma túy nên tịch thu sung công quỹ. Đối với 01 chiếc điện thoại di động S3 20 Ultra màu trắng là tài sản của bị cáo và không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS 30K5 – 4604 là tài sản của chị O, chị O không biết bị cáo sử dụng xe máy để đi mua bán ma túy nên trả lại cho chị Đặng Thị Hiền O. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Trần Ngọc S - sinh năm 1987
Phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Căn cứ: điểm b,i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Ngọc S 10 (Mười) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Hạn tù của bị cáo kể từ ngày bắt quả tang 01/7/2024.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo.
Đối với số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22/11/2024, xử lý như sau:
- - Tịch thu tiêu hủy 9,527 gam Methaphetamine dạng viên nén màu đỏ và 5,486 gam Methaphetamine dạng tinh thể màu trắng bên trong 01(một) Phong bì niêm phong. Bên ngoài Phong bì có chữ ký của Giám định viên PC09 Phạm Trần N, cán bộ Công an xã T Lê Văn S2 và bị cáo Trần Ngọc S.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 túi xách đeo chéo giả da mầu đen kích thước (15x10)cm.
- - Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại Samsung J6 vỏ mầu đen, số IMEI1 358465091638661, số IMEI2 358466091638669 và 01 điện thoại OPPO A60 mầu xanh có số sim 0974697883, số IMEI 867993074821651.
- - Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc S 01 điện thoại di động S3 20 Ultra mầu trắng có sim số 0927223444, số IMEI 354626226278541.
- - Trả cho chị Đặng Thị H2 O chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS: 30K5 – 4604, số máy: 1141490, số khung: 118992.
Bị cáo Trần Ngọc S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Chị Đặng Thị Hiền O và anh Nguyễn Vân H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần liên quan trong 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận bản án:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hải |
Bản án số 249/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 249/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
