Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2024/HSST

Ngày : 10/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Công Trung;
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

Thư ký phiên tòa: ông Huỳnh Thanh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên;

Ngày 10 tháng 12 năm 2024; tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 241/2024/HSST ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 285/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Trọng Quang V; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1989; tại: TP .; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 38/22/102 C, phường C, quận H, TP .; Chỗ ở hiện nay: như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Vũ Trọng B (Chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1960; vợ: không; con: 02 người (Lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023).

Nhân thân: Ngày 26/4/2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 27/9/2004 bị Tòa phúc thẩm tại Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 36 tháng. Đã được xóa án tích.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Chiêm Thể B1, sinh năm 1994; trú tại: 3 T, phường H, quận T, TP . (Vắng mặt).
  2. Chị Trần Thị Mỹ L1, sinh năm 1996; trú tại: A C/c H, phường P, quận T, TP . (Vắng mặt).
  3. Anh Trần Quốc A, sinh năm 1972; trú tại: C N, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
  4. Chị Khổng Thị Minh T, sinh năm 1996; trú tại: E H, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
  5. Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1985; trú tại: A D, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2023 Vũ Trọng Quang V bắt đầu hoạt động cho khách vay tiền góp với lãi suất 30%/tháng = 360%/năm trên tổng số tiền vay. Để tìm kiếm người vay tiền V đã đến các chợ trên địa bàn quận T gặp những người bán hàng giới thiệu cho vay, đồng thời để lại số điện thoại 0789.236.xxx để người vay liên lạc. Khi có người liên hệ vay tiền thì V đến trực tiếp nơi ở hoặc nơi làm việc của khách vay để xác minh thông tin của người vay. Nếu người vay có nơi ở ổn định, việc làm ổn định có khả năng trả nợ thì V đồng ý cho vay. V đưa tiền cho người vay bằng tiền mặt hoặc sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số 672704060032506 tên Vũ Trọng Quang V chuyển tiền vào tài khoản của người vay tiền, đồng thời sẽ giữ Căn cước công dân của người vay, thu trước 02 ngày tiền góp và 5% tiền phí hồ sơ. Khoảng 18 giờ ngày 23/5/2024 Vũ Trọng Quang V đang khiển xe gắn máy lưu thông đến trước nhà số I Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị tổ C Công an Thành phố H kiểm tra phát hiện có hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên đã đưa V về trụ sở Công an P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để làm việc. Qua điều tra xác định, V có hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trên địa bàn quận T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Thành phố Hồ Chí Minh đã chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra xác định, V cho 05 người vay tiền cụ thể như sau:

  1. Anh Chiêm Thể B1 vay 03 lần cụ thể:
    • Lần thứ nhất: Khoảng tháng 7/2023 vay trả góp số tiền 5.000.000 đồng, trong thời hạn 24 ngày, phí hồ sơ 250.000 đồng, mỗi ngày phải trả 250.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 6.000.000 đồng, lãi suất 300%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 66.667 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 933.333 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.183.333 đồng.
    • Lần thứ hai: Khoảng 02/2024 vay trả góp số tiền 2.000.000 đồng, trả trong thời hạn 24 ngày, phí hồ sơ 100.000 đồng, mỗi ngày phải trả 100.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 2.400.000 đồng, lãi suất 300%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 26.667 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 373.333 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 473.333 đồng.
    • Lần thứ ba: Khoảng 02/2024 vay trả góp số tiền 2.000.000 đồng, vay trong thời hạn 24 ngày, phí hồ sơ 100.000 đồng, mỗi ngày phải góp số tiền 100.000 đồng, đã trả được 10 ngày với tổng số tiền 1.000.000 đồng, lãi suất 300%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 11.111 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 155.556 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 255.556 đồng.
  2. Chị Trần Thị Mỹ L1 vay 01 lần:
    • Khoảng tháng 3/2024, vay trả góp số tiền 5.000.000 đồng, trả trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả số tiền 250.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã được 14 ngày với tổng số tiền 3.500.000 đồng, lãi suất 300%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 38.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 544.444 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 544.444 đồng.
  3. Anh Trần Quốc A vay 07 lần cụ thể:
    • Lần thứ nhất: Khoảng 02/2024, vay trả góp số tiền 4.000.000 đồng, trả trong thời hạn 25 ngày, phí hồ sơ 200.000 đồng, mỗi ngày trả góp số tiền 200.000 đồng. đã trả xong với tổng số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 55.556 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 944.444 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.144.444 đồng.
    • Lần thứ hai: Ngày 24/3/2024, vay trả góp số tiền 3.000.000 đồng, trả trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả góp số tiền 150.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 3.750.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 41.667 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 708.333 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 708.333 đồng.
    • Lần thứ ba: Ngày 29/03/2024, vay trả góp số tiền 2.000.000 đồng, trả trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả góp số tiền 100.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 2.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 27.778 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 472.222 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 472.222 đồng.
    • Lần thứ tư: Ngày 08/4/2024, vay trả góp số tiền 3.000.000 đồng, trả trong thời hạn 25 ngày, không thu phí hồ sơ, mỗi ngày trả góp số tiền 150.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 3.750.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 41.667 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 708.333 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 708.333 đồng.
    • Lần thứ năm: Ngày 14/4/2024, vay trả góp số tiền 2.000.000 đồng trả trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả góp số tiền 100.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 2.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 27.778 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 472.222 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 472.222 đồng.
    • Lần thứ sáu: Ngày 28/04/2024, vay trả góp số tiền 4.000.000 đồng, trả trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả góp số tiền 200.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 55.556 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 944.444 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 944.444 đồng.
    • Lần thứ bảy: Ngày 12/5/2024, vay trả góp số tiền 2.000.000 đồng, trả trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả góp số tiền 100.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả được 14 ngày với tổng số tiền 1.400.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 15.556 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 264.444 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 264.444 đồng.
  4. Chị Khổng Thị Minh T vay 1 lần:
    • Ngày 23/05/2024, vay trả góp số tiền 3.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày trả góp số tiền 150.000 đồng, phí hồ sơ 150.000 đồng, đã trả được 04 ngày với tổng số tiền 600.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 6.667 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 113.333 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 263.333 đồng.
  5. Chị Nguyễn Thị Q vay 23 lần, cụ thể:
    • Lần thứ nhất: Ngày 29/9/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, phí hồ sơ 500.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.861.111 đồng.
    • Lần thứ hai: Ngày 16/10/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, phí hồ sơ 500.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.861.111 đồng.
    • Lần thứ ba: Ngày 05/11/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ tư: Ngày 13/11/2023, vay trả góp số tiền 5.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 250.000 đồng, phí hồ sơ 250.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 6.250.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 69.444 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 1.180.556 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.430.556 đồng.
    • Lần thứ năm: Ngày 19/11/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, phí hồ sơ 500.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.861.111 đồng.
    • Lần thứ sáu: Ngày 25/11/2023, vay trả góp số tiền 5.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 250.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 6.250.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 69.444 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 1.180.556 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.180.556 đồng.
    • Lần thứ bảy: Ngày 07/12/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, phí hồ sơ 500.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.861.111 đồng.
    • Lần thứ tám: Ngày 12/12/2023, vay trả góp số tiền 5.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 250.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 6.250.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 69.444 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 1.180.556 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.180.556 đồng.
    • Lần thứ chín: Ngày 21/12/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, phí hồ sơ 500.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.861.111 đồng.
    • Lần thứ mười: Ngày 27/12/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, phí hồ sơ 250.000 đồng, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.611.111 đồng.
    • Lần thứ mười một: Ngày 31/12/2023, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười hai: Ngày 09/01/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười ba: Ngày 11/01/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười bốn: Ngày 19/01/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười lăm: Ngày 21/01/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười sáu: Ngày 29/01/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười bảy: Ngày 04/02/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười tám: Ngày 21/02/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ mười chín: Ngày 23/02/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ hai mươi: Ngày 10/3/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ hai mươi mốt: Ngày 11/3/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ hai mươi hai: Ngày 06/4/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả xong với tổng số tiền 12.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 138.889 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 2.361.111 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.361.111 đồng.
    • Lần thứ hai mươi ba: Ngày 11/04/2024, vay trả góp số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 25 ngày, mỗi ngày phải trả 500.000 đồng, không thu phí hồ sơ, đã trả được 17 ngày với tổng số tiền 8.500.000 đồng, lãi suất 360%/năm, số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 94.444 đồng, số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 1.605.556 đồng. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 1.605.556 đồng.

Như vậy, tổng số tiền gốc cho vay là 252.000.000 đồng; Số tiền lãi theo lãi suất cho phép là 3.357.222 đồng; Tổng số tiền thu lợi bất chính là: 59.942.778 đồng (trong đó số tiền lãi vượt quá lãi suất cho phép là 56.642.778 đồng, số tiền thu phí hồ sơ là 3.300.000 đồng)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Vũ Trọng Quang V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone số IMEI: 353242100654848, V sử dụng để liên lạc cho vay lãi nặng.

Vật chứng trên Cơ quan điều tra đã nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 246/PNK ngày 11/8/2024.

Tại bản cáo trạng số: 264/CT-VKSQ.TP ngày 24 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Vũ Trọng Quang V về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • - Xử phạt: bị cáo Vũ Trọng Quang V từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Bị cáo Vũ Trọng Quang V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với Bản kết luận điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng tháng 01/2023 đến ngày 23/5/2024, tại địa bàn quận T, Vũ Trọng Quang V đã có hành vi cho 05 người vay tiền gồm: Anh Chiêm Thể B1, chị Trần Thị Mỹ L1, anh Trần Quốc A, chị Khổng Thị Minh T, chị Nguyễn Thị Q với lãi suất từ 300%/năm đến 360%/năm, vượt quá mức lãi suất cho phép của Nhà nước nhằm thu lợi bất chính tổng số tiền 59.942.778 đồng thì bị phát hiện.

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Trọng Quang V về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

  1. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn mang tính chất bóc lột làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng thậm chí phải bán tài sản để trả nợ. Bị cáo có nhân thân xấu. Thiết nghĩ, cần có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
  2. [4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • Tình tiết tăng nặng: không.
    • Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  3. [5] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra anh Chiêm Thể B1, chị Trần Thị Mỹ L1, anh Trần Quốc A, chị Khổng Thị Minh T, chị Nguyễn Thị Q và bị cáo không yêu cầu giải quyết đối với các Hợp đồng vay tài sản. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Khi nào các bên có tranh chấp đối với các Hợp đồng vay tài sản thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự riêng biệt khi các bên có yêu cầu.
  4. [6] Về biện pháp tư pháp:
    • Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận tổng số tiền gốc mà bị cáo cho 05 người vay là: 252.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm, nên buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.
    • Đối với số tiền 3.357.222 đồng mà bị cáo đã thu của 05 người vay đây là số tiền lãi suất cho phép và số tiền 3.300.000 đồng phí hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy đây là khoản thu từ việc phạm tội mà có, nên buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.
    • Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất mà bị cáo đã thu của 05 người vay là: 56.642.778 đồng (số tiền thu lợi bất chính). Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao tuyên trả lại cho người vay. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả cho những người vay, cụ thể như sau:
      • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh C Thể B1 số tiền: 1.462.222 đồng.
      • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Trần Thị Mỹ L1 số tiền: 544.444 đồng.
      • Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh Trần Quốc A số tiền: 4.514.442 đồng.
      • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Khổng Thị Minh T số tiền: 113.333 đồng.
      • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Nguyễn Thị Q số tiền: 50.008.337 đồng.
    • Đối với số tiền những người vay chưa trả hết tiền gốc cho bị cáo V thì buộc những người này nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể:
      • Buộc anh C Thể B1 nộp lại số tiền: 1.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
      • Buộc chị Trần Thị Mỹ L1 nộp lại số tiền: 1.500.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
      • Buộc anh Trần Quốc A nộp lại số tiền: 600.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
      • Buộc chị Khổng Thị Minh T nộp lại số tiền: 2.400.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
      • Buộc chị Nguyễn Thị Q nộp lại số tiền: 1.500.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
  5. [7] Về xử lý vật chứng:
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone số IMEI: 353242100654848, V sử dụng để liên lạc cho vay lãi nặng. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  6. [8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
    • Đối với án phí dân sự sơ thẩm: trong vụ án này không có người bị hại, những người mà bị cáo cho vay được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc tuyên trả số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cho phép cho những người vay chỉ là trả lại phần tài sản do bị cáo đã thu lợi bất chính mà không được xác định là bồi thường thiệt hại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì đây chỉ là biện pháp tư pháp được áp dụng với người phạm tội. Theo quy định tại Điều 21 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự được xác định trong trường hợp Tòa án giải quyết cả phần dân sự trong vụ án hình sự. Do đó, bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. [1] Tuyên bố: bị cáo Vũ Trọng Quang V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. [2] Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  3. [3] Xử phạt: bị cáo Vũ Trọng Quang V 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Tiền phạt được nộp ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật để nộp vào ngân sách nhà nước.

Trong trường hợp bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ nộp phạt thì bị cáo phải trả lãi đối với số tiền chậm nộp phạt, tương ứng với thời gian chậm nộp phạt, lãi suất phát sinh do chậm nộp phạt được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. [4] Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
    • Buộc bị cáo Vũ Trọng Quang V phải nộp lại số tiền: 252.000.000 đồng (số tiền gốc mà bị cáo cho vay) và 3.357.222 đồng (Số tiền lãi mà bị cáo đã thu), phí hồ sơ bị cáo đã thu: 3.300.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
    • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh C Thể B1 số tiền: 1.462.222 đồng.
    • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Trần Thị Mỹ L1 số tiền: 544.444 đồng.
    • Buộc các bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho anh Trần Quốc A số tiền: 4.514.442 đồng.
    • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Khổng Thị Minh T số tiền: 113.333 đồng.
    • Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại cho chị Nguyễn Thị Q số tiền: 50.008.337 đồng.
    • Buộc anh Chiêm T1 B1 nộp lại số tiền: 1.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
    • Buộc chị Trần Thị Mỹ L1 nộp lại số tiền: 1.500.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
    • Buộc anh Trần Quốc A nộp lại số tiền: 600.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước;
    • Buộc chị Khổng Thị Minh T nộp lại số tiền: 2.400.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
    • Buộc chị Nguyễn Thị Q nộp lại số tiền: 1.500.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  1. [5] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone số IMEI: 353242100654848.

Vật chứng trên hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 246/PNK ngày 11/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, TP ..

  1. [6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
    • Buộc bị cáo Vũ Trọng Quang V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. [7] Về quyền kháng cáo: bị cáo Vũ Trọng Quang V có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • Công an quận Tân Phú;
  • VKSND quận Tân Phú;
  • Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • CA. TP. Hồ Chí Minh;
  • Sở Tư Pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/HSST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 249/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger