|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 249/2024/HS-ST.
Ngày: 19 - 11- 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.
Ông Phạm Văn Huynh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Lâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai với hình thức trực tuyến tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai gồm: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án. Điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai gồm: Bị cáo, Thư ký, cán bộ chiến sỹ thuộc nơi giam giữ đối với vụ án hình sự thụ lý số: 244/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2024/QĐST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn G, sinh năm 2003 tại tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Khóm V, phường V, Thành phố C, tỉnh An Giang; Nơi sinh sống: ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Ngô Thị Thanh T; sống chung như vợ chồng với Dương Thị T1, không đăng ký kết hôn và có 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.
(Bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn G là người nghiện ma tuý từ đầu năm 2023, do muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03/6/2024, G đi xe ôm đến vòng xoay cao tốc L - D thuộc địa phận xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, G đi vào con đường hẻm đối diện Ủy ban nhân dân xã L để tìm gặp một người phụ nữ tên T2 (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua của T2 5.000.000 đồng ma tuý, T2 đưa cho G gói nylon trong đó có ma tuý. Sau đó, G đem gói ma tuý về phòng trọ tại ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai phân chia vào 05 đoạn ống hút màu trắng vàng có kích thước khoảng 02cm x 01cm, để bán cho các đối tượng sử dụng ma tuý. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, G bán cho Trần Ngọc L, sinh năm 2003, cư trú tại ấp D, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai 01 đoạn ống hút có ma túy với giá 200.000 đồng.
Trước đó, G bán cho Nguyễn Huỳnh Nhật N, sinh năm 2000, cư trú tại ấp E, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai 02 lần tại phòng trọ của G: Lần 01: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, đã bán 01 đoạn ống hút có ma túy với giá 300.000 đồng. Lần 02: Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, bán 01 đoạn ống hút có ma túy với giá 300.000 đồng.
Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 30/5/2024 tại phòng trọ của G, G bán cho Trần Ngọc L nêu trên 01 đoạn ống hút có ma tuý với giá 300.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ 05 phút ngày 03/6/2024, khi G đang ở chung với vợ là Dương Thị T1 tại phòng trọ, thì Công an xã T phối hợp Công an huyện L kiểm tra hành chính phòng trọ của G, phát hiện bên trong hốc tủ nhựa, loại tủ 05 ngăn màu xanh có chứa 01 (một) hộp nhựa màu trắng bên trong có 01 gói nylon kích thước 7,5cm x 04cm; 04 (bốn) đoạn ống hút màu vàng (trong đó có 03 (ba) đoạn kích thước 02cm x 01cm và 01 (một) đoạn kích thước 2,5cm x 01cm) bên trong có chứa ma tuý nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để điều tra theo thẩm quyền. Quá trình điều tra G khai nhận từ trước đến ngày bị bắt, G thu lợi bất chính được số tiền 3.200.000 đồng từ việc mua bán trái phép chất ma túy.
Vật chứng: 01 gói mẫu vật sau giám định số 1169/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ; 01 cái kéo kim loại dài 10cm; 01 cân tiểu ly màu đen, nắp nhựa màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa dài 10cm; 02 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 100.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 1169/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng: 10,4947gam, loại Methamphetamine.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Nguyễn Văn G đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.
– Tại cáo trạng số 235/CT-VKS-LT ngày 21 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
– Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật sau giám định số: 1169/KL-KTHS ngày 10/6/2024, 01 cái kéo kim loại dài 10cm; 01 cân tiểu ly màu đen, nắp nhựa màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa dài 10cm; Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng, do G thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma tuý, G đã nộp.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, yêu cầu Nguyễn Văn G nộp lại số tiền 3.000.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma tuý để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G từ 08 đến 09 năm tù.
Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho G, do chưa xác định được rõ họ tên, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Huỳnh Nhật N và Trần Ngọc L đã có hành vi mua ma túy của Nguyễn Văn G để sử dụng nên Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định pháp luật.
Riêng Dương Thị T1 là người chung sống với G như vợ chồng, quá trình chung sống T1 không biết G có sử dụng ma tuý cũng như không biết G có tàng trữ trái phép chất ma tuý để bán cho các đối tượng nghiện, nên T1 không đồng phạm tội với G về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được tại hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, nên có cơ sở xác định: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03/6/2024, Nguyễn Văn G đi xe ôm đến vòng xoay cao tốc L - D thuộc địa phận xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, G đi vào con đường hẻm đối diện Ủy ban nhân dân xã L để tìm gặp một người phụ nữ tên T2 (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua của T2 5.000.000 đồng ma tuý. Sau đó, G đem gói ma tuý về nhà trọ tại ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai phân chia vào 05 đoạn ống hút màu trắng vàng để bán cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng ma tuý. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, G bán cho Trần Ngọc L 01 đoạn ống hút có ma túy với giá 200.000 đồng. Trước đó G bán cho Nguyễn Huỳnh Nhật N 02 lần tại phòng trọ của G: Lần 01: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/5/2024, đã bán 01 đoạn ống hút có ma túy với giá 300.000 đồng. Lần 02: Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 02/6/2024, G bán 01 đoạn ống hút có ma túy với giá 300.000 đồng. Vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 30/5/2024 tại phòng trọ của G, G bán cho Trần Ngọc L 01 đoạn ống hút có ma tuý với giá 300.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 05 phút ngày 03/6/2024, khi G đang ở tại phòng trọ thì Công an xã T phối hợp Công an huyện L kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ 10,4947 gam ma tuý, loại Methamphetamine nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để điều tra theo thẩm quyền. Do đó, hành vi của bị cáo G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 2015) như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma tuý và trật tự an toàn xã hội tại địa phương, tiếp tay cho đối tượng khác thực hiện hành vi sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo nhận thức rất rõ về việc Nhà nước nghiêm cấm hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân nên vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Căn cứ vào hành vi phạm tội, cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật sau giám định số: 1169/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 cái kéo kim loại dài 10cm; 01 cân tiểu ly màu đen, nắp nhựa màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa dài 10cm; Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng G thu lợi bất chính từ việc bán ma túy. Số tiền này đã được nộp vào Kho bạc Nhà nước huyện L.
[6] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn G nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy trước đó là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho G, do chưa xác định được rõ họ, tên, lai lịch, địa chỉ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.
[9] Đối với Nguyễn Huỳnh Nhật N và Trần Ngọc L đã có hành vi mua ma túy của Nguyễn Văn G để sử dụng nên Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp với quy định pháp luật.
[10] Đối với Dương Thị T1 là người sống chung với G như vợ chồng, quá trình chung sống T1 không biết G có sử dụng ma tuý cũng như không biết G có tàng trữ trái phép chất ma tuý để bán cho các đối tượng nghiện, nên T1 không đồng phạm tội với G về hanh vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[11] Đối với ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[12] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn G 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2024. - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 gói mẫu vật sau giám định số: 1169/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 cái kéo kim loại dài 10cm; 01 cân tiểu ly màu đen, nắp nhựa màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa dài 10cm, vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/10/2024. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của G, theo giấy nộp tiền ngày 22/10/2024 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ – Chi nhánh Đ1 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L nộp vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành tại K huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn G nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma túy là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) để tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Hoa |
Bản án số 249/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 249/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: MBTTCMT
