|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 249/2024/DS-ST Ngày 18-11-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh.
2. Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 952/2023/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1783/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.
Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường T, quận H, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 22/5/2023)
1/ Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1994;
2/ Bà Đoàn Diệu T, sinh năm 1996;
Địa chỉ liên hệ: Lầu B, số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn:
1/ Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Khu phố H, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.
2/ Bà Vũ Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Căn hộ A, Chung cư H, phường H, TP ., tỉnh Bình Dương.
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông M, bà A vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đoàn Diệu T trình bày:
Ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A và Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh H1 đã cùng ký kết các Hợp đồng cho vay sau:
a. Hợp đồng cho vay số 214/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020 chi tiết như sau:
Khế ước nhận nợ: ngày 28/9/2020
Số tiền cho vay: 325.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng)
Số tiền giải ngân: 325.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng)
Ngày giải ngân: 28/9/2020
Mục đích sử dụng vốn : Cho vay bổ sung vốn kinh doanh không thường xuyên
Thời hạn cho vay: 48 tháng
Lãi suất phát vay: 7,99%/năm.
b. Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 223/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 15/10/2020:
Loại thẻ: Hạng chuẩn (S - CRCG0800 – Primary)
Hạn mức thẻ: 20.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng)
Ngày phát hành: 21/10/2020
Ngày hết hạn: 31/10/2023
Lãi suất: 25%/năm
Sau khi nhận được số tiền giải ngân, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã trả được cho ngân hàng tổng số tiền là 65.911.509 đồng (trong đó nợ gốc: 47.489.884 đồng, nợ lãi: 18.421.625 đồng).
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 214/2020/HĐBĐ/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020 để thế chấp tài sản là: Xe ô tô tải (Pickup Cabin kép): Hiệu: CHEVROLET, Số loại: COLORADO, Số khung: 8PK0HH620351, Số máy: X3G162941200, Biển kiểm soát: 60C-327.09. Chiếu theo: Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 161495 do Phòng C – Công an Tỉnh Đ cấp ngày 24/08/2020. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP . ngày 28/9/2020, số đăng ký 1383564116.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nguyên đơn đã gửi Thông báo số 1292/PVB ngày 21/02/2022 về việc vi phạm nghĩa vụ và thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay của ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A.
Dư nợ các khoản vay của ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A tính đến ngày 18/11/2024 như sau:
| 1. Gốc | 277.510.116 đồng |
| 2. Tổng lãi | 185.216.903 đồng |
| Lãi trong hạn | 63.448.646 đồng |
| Lãi quá hạn | 107.104.025 đồng |
| Lãi chậm trả | 14.664.233 đồng |
| Tổng cộng | 462.727.019 đồng |
| 3. Dư nợ thẻ | 53.174.352 đồng |
| Tổng cộng | 515.901.371 đồng |
Nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 18/11/2024 là: 515.901.371 đồng (Năm trăm mười lăm triệu, chín trăm linh một nghìn, ba trăm bảy mươi mốt đồng) (Trong đó nợ gốc: 277.510.116 đồng, nợ lãi: 185.216.903 đồng và nợ thẻ tín dụng: 53.174.352 đồng).
- Buộc ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 214/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020 và Đơn đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 223/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 15/10/2020 kể từ ngày 19/11/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là Xe ô tô: Hiệu: CHEVROLET, loại COLORADO, số khung: 8PK0HH620351, số máy: X3G162941200, biển kiểm soát: 60C-327.09 theo: Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Đ cấp ngày 24/08/2020 cho ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
- Số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đối với Ngân hàng TMCP Đ. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Về chi phí tố tụng: Yêu cầu bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn theo thỏa thuận tại hợp đồng thế chấp mà các bên đã ký kết.
Bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp cho Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:
Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, thời hạn tố tụng được đảm bảo và các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ. Phiên tòa được thực hiện dân chủ, bình đẳng. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ tiền gốc và lãi như phía nguyên đơn yêu cầu. Bị đơn phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật. Hoàn trả nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng M có địa chỉ cư trú cuối cùng tại khu phố H, phường T, thành phố B, bà Vũ Nguyễn Ngọc A có địa chỉ cư trú cuối cùng tại Căn hộ A, Chung cư H, phường H, TP ., tỉnh Bình Dương. Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để giải quyết vụ án. Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39 và Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho bị đơn bằng hình thức đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A thanh toán tiền còn nợ đối với hợp đồng tín dụng nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A và Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh H1 đã cùng ký kết các Hợp đồng cho vay sau:
a. Hợp đồng cho vay số 214/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020 chi tiết như sau:
Khế ước nhận nợ: ngày 28/9/2020
Số tiền cho vay: 325.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng)
Số tiền giải ngân: 325.000.000 đồng (Ba trăm hai mươi lăm triệu đồng)
Ngày giải ngân: 28/9/2020
Mục đích sử dụng vốn : Cho vay bổ sung vốn kinh doanh không thường xuyên
Thời hạn cho vay: 48 tháng
Lãi suất phát vay: 7,99%/năm.
b. Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 223/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 15/10/2020:
Loại thẻ: Hạng chuẩn (S - CRCG0800 – Primary)
Hạn mức thẻ: 20.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng)
Ngày phát hành: 21/10/2020
Ngày hết hạn: 31/10/2023
Lãi suất: 25%/năm
Sau khi nhận được số tiền giải ngân, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã trả được 65.911.509 đồng (trong đó nợ gốc là 47.489.884 đồng, nợ lãi là 18.421.625 đồng).
Tài sản đảm bảo: Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã ký Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 214/2020/HĐBĐ/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020 để thế chấp tài sản là: Xe ô tô tải (Pickup Cabin kép): Hiệu: CHEVROLET, Số loại: COLORADO, Số khung: 8PK0HH620351, Số máy: X3G162941200, Biển kiểm soát: 60C-327.09. Chiếu theo: Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 161495 do Phòng C – Công an Tỉnh Đ cấp ngày 24/08/2020. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP . ngày 28/9/2020, số đăng ký 1383564116.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Nguyên đơn đã gửi Thông báo số 1292/PVB ngày 21/02/2022 về việc vi phạm nghĩa vụ và thu hồi nợ trước hạn đối với khoản vay của ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A.
Dư nợ các khoản vay của ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A tính đến ngày 18/11/2024 như sau:
| 1. Gốc | 277.510.116 đồng |
| 2. Tổng lãi | 185.216.903 đồng |
| Lãi trong hạn | 63.448.646 đồng |
| Lãi quá hạn | 107.104.025 đồng |
| Lãi chậm trả | 14.664.233 đồng |
| Tổng cộng | 462.727.019 đồng |
| 3. Dư nợ thẻ | 53.174.352 đồng |
| Tổng cộng | 515.901.371 đồng |
Nhận thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như cam kết trong hợp đồng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng TMCP Đ khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A thanh toán cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 18/11/2024 là: 515.901.371 đồng (Năm trăm mười lăm triệu, chín trăm linh một nghìn, ba trăm bảy mươi mốt đồng) (Trong đó nợ gốc: 277.510.116 đồng, nợ lãi: 185.216.903 đồng và nợ thẻ tín dụng: 53.174.352 đồng).
- Buộc ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 214/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020 và Đơn đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số 223/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 15/10/2020 kể từ ngày 19/11/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là Xe ô tô: Hiệu: CHEVROLET, loại COLORADO, số khung: 8PK0HH620351, số máy: X3G162941200, biển kiểm soát: 60C-327.09 theo: Chứng nhận đăng ký xe ô tô do Phòng cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Đ cấp ngày 24/08/2020 cho ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
- Số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đối với Ngân hàng TMCP Đ. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ, ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
Nhận thấy, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền tự chứng minh và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp như: Hợp đồng cho vay số 214/2020/HĐTD/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020; Khế ước nhận nợ ngày 28/9/2020; Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 214/2020/HĐBĐ/PVB-CNHCM.DVKHCL5 ngày 28/9/2020; Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 161495 do Phòng C Công an Tỉnh Đ cấp ngày 24/08/2020; Phiếu yêu cầu, Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Đ và ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A thể hiệc việc các bên đã ký kết các hợp đồng tín dụng như phía nguyên đơn trình bày là đúng. Phía bị đơn ông Nguyễn Hoàng M và bà Vũ Nguyễn Ngọc A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu tiền lãi do Ngân hàng yêu cầu là phù hợp với thoả thuận của các bên tại hợp đồng tín dụng và quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng nên yêu cầu tiền lãi của nguyên đơn cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do vậy, căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ, buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền còn nợ là: 515.901.371 đồng (Năm trăm mười lăm triệu, chín trăm linh một nghìn, ba trăm bảy mươi mốt đồng) (Trong đó nợ gốc: 277.510.116 đồng, nợ lãi: 185.216.903 đồng và nợ thẻ tín dụng: 53.174.352 đồng).
Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Xét thấy việc thế chấp tài sản đảm bảo các khoản vay giữa nguyên đơn và bị đơn đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng TMCP Đ đối với tài sản thế chấp đảm bảo nêu trên trong trường hợp bị đơn không có khả năng thanh toán số tiền nợ cho Ngân hàng.
[5] Về chi phí tố tụng: Căn cứ vào thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng thế chấp tài sản. Cần buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A phải chịu 7.000.000 đồng chi phí tố tụng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền trên. Do đó cần buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn.
[6] Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:
Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 40, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A phải hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
- Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A phải nộp 24.636.000 đồng (Hai mươi tư triệu, sáu trăm ba mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền tính đến ngày 18/11/2024 là 515.901.371 đồng (Năm trăm mười lăm triệu, chín trăm linh một nghìn, ba trăm bảy mươi mốt đồng) (Trong đó nợ gốc: 277.510.116 đồng (Hai trăm bảy mươi bảy triệu, năm trăm mười nghìn, một trăm mười sáu đồng), nợ lãi: 185.216.903 đồng (Một trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm mười sáu nghìn, chín trăm linh ba đồng) và nợ thẻ tín dụng: 53.174.352 đồng (Năm mươi ba triệu, một trăm bảy mươi tư nghìn, ba trăm năm mươi hai đồng).
Trường hợp bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A không trả nợ hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản đảm bảo là: Xe ô tô tải (Pickup Cabin kép): Hiệu: CHEVROLET, Số loại: COLORADO, Số khung: 8PK0HH620351, Số máy: X3G162941200, Biển kiểm soát: 60C-327.09. Chiếu theo: Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 161495 do Phòng C – Công an Tỉnh Đ cấp ngày 24/08/2020. Tài sản bảo đảm đã được đăng ký thế chấp tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại TP . ngày 28/9/2020, số đăng ký 1383564116.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, bị đơn ông Nguyễn Hoàng M, bà Vũ Nguyễn Ngọc A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Hoàn trả cho Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.823.837 đồng (Chín triệu, tám trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi bảy đồng) theo biên lai thu tiền số 0009368 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Thúy |
Bản án số 249/2024/DS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 249/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam - Minh, Anh
