Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG MÃ

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2024/HS-ST

Ngày 12 tháng 9 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Kiên, bà Lò Thị Thành.

- Thư ký phiên toà:

Bà Hà Thị Điệp - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà:

Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 203/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 261/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 275a/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T - Sinh ngày 03/5/1973; Nơi cư trú: Tổ 5, phường T, thành phố S, tỉnh Sơn La; Chỗ ở hiện nay: Khu 561, bản Phôn Sa Vát, huyện Nong San, tỉnh Xay Xổm Bun, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ giáo dục phổ thông: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ, đảng phái: Không; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị T; Bị cáo không có vợ nhưng đã chung sống như vợ chồng với Thay B (đã chết) và hiện nay chung sống như vợ chồng với Ca D, bị cáo có 03 con đều đã trưởng thành. Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, giam từ ngày 08/3/2024 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 08/3/2024 Tổ công tác Đồn Biên Phòng cửa khẩu Chiềng Khương phối hợp với Công an xã Chiềng Khương, Sông Mã làm nhiệm vụ phòng chống ma túy, phòng chống tội phạm tại bản Chiềng Khương, xã Chiềng Khương phát hiện một người đàn ông đang đi bộ dọc theo bờ Sông Mã hướng từ Việt Nam sang Nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính, người đàn ông khai tên là Trần Văn T sinh năm 1973 trú tại Tổ 5, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (nơi ở hiện nay: Khu 516, bản Phôn Sa Vát, huyện Nong San, tỉnh Xay Bổm Bun/Lào), quá trình kiểm tra tổ công tác yêu cầu T giao nộp những đồ vật vi phạm nếu có, T đã tự lấy ra giao nộp cho tổ công tác 01 mẩu ống hút nhựa màu trắng bên trong có chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng (T khai nhận là Hồng phiến), tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 22 tháng 02 năm 2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng nghi là ma túy, kết quả: 01 viên nén hình tròn màu hồng có khối lượng là 0,114 gam đã trích hết 0,114 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu T.

Kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 09/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:

Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,114 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,114 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận: T sang nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào làm thuê và thường xuyên đi lại giữa hai nước Việt Nam và Lào. Ngày 04/3/2024 T bắt xe khách từ chỗ làm thuê đến cửa khẩu Chiềng Khương, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, Sơn La nhập cảnh về Việt Nam, khi đi qua cửa khẩu Chiềng Khương một đoạn thì gặp một người đàn ông, T hỏi và mua được của người này 06 viên Hồng phiến với số tiền 42.000 kíp Lào, sau đó T bắt xe bus về nhà ở Tổ 5, phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La. Trong thời gian ở nhà T đã sử dụng hết 05 viên Hồng phiến, còn 01 viên T cất giấu ở trong mẩu ống hút rồi hàn kín hai miệng ống lại. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/3/2024 T mang theo viên Hồng phiến rồi bắt xe bus vào Chiềng Khương để sang Lào tiếp tục làm thuê, khi T đang đi bộ vào khu vực cửa khẩu Chiềng Khương thì bị tổ công tác Đồn Biên Phòng cửa khẩu Chiềng Khương phối hợp với Công an xã Chiềng Khương kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Tại Cáo trạng số 146/CT-VKSSM ngày 07 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Trần Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đối với người đàn ông mà T khai nhận bán ma túy cho T, quá trình điều tra do T không biết tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra.

Tại phiên toà kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo từ 01 năm 01 tháng - 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan.

Buộc bị cáo chịu án phí. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận, khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan, Người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tình tiết định tội: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 08/3/2024; Vật chứng bị thu giữ; Kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 09/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội; Biên bản ghi lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ.

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 08/3/2024 Trần Văn T đã có hành vi cất giấu 0,114gam ma tuý, loại chất Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố và Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, mà còn ảnh hưởng sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Các vật chứng liên quan cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông bị cáo khai nhận bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra do bị cáo không biết được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ là đảm bảo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[9] Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về Điều luật áp dụng, Tội danh và Hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 năm 01 tháng tù - Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2024.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 ống nhựa, 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã được bóc mở.

(các vật chứng được đựng trong một phong bì do Bưu điện Việt Nam phát hành được niêm phong).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 140/QĐ-VKSSM ngày 07/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/6/2024 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/9/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Sơn La;
  • - VKSND Tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sông Mã;
  • - Công an huyện Sông Mã;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS;
  • - Sở TP;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 249/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do nghiẹn ma tuý Trần Văn Thắng tàng trữ ma tuý để sử dụng thì bị bắt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger