Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 249/2024/HSST

Ngày: 13/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Dương.
  2. Ông Nguyễn Văn Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh:

Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Văn phòng ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 224/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 239/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Duy K (tên gọi khác: C), sinh năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh, thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 1/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Minh P; bị cáo chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 24/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 28/3/2023 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1989, tại Thành phố Hồ Chí Minh, thường trú tại: Số B, Đường C, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Văn P1 (chết) và bà Lê Thị Đ; bị cáo chưa có vợ; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 24/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 04/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù; nhân thân: Năm 2005 bị Ủy ban nhân dân quận T áp dụng biện pháp đưa vào trường G tại huyện L, tỉnh Đồng Nai đến năm 2007 chấp hành xong, ngày 12/02/2009 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản” đến ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Dương Triều H1 (tên gọi khác: Cọp đen), sinh năm 1998, tại tỉnh Sóc Trăng, thường trú tại: Ấp N, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ văn hóa: 8/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Dương Đình L và bà Trần Thị T; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Quách Thị T1, sinh năm 1989; địa chỉ: Số G, Đường C, Tổ D, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Tằng M1, sinh năm 1965, địa chỉ: Số D, thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992, địa chỉ: Số H, Đường số A, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 216/CT-VKS.CC ngày 29/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Nguyễn Duy K, Nguyễn Ngọc M và Dương Triều H1 về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Duy K và Dương Triều H1 là bạn bè chơi chung với nhau từ năm 2018 đến nay. Do không có việc làm nhưng cần tiền tiêu xài cá nhân nên K nảy sinh ý định cướp giật dây chuyền của người khác bán lấy tiền tiêu xài.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/11/2023, Nguyễn Ngọc M gặp Nguyễn Duy K và Dương Triều H1 tại quán C1 tại thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, K rủ M và H1 đi cướp giật dây chuyền để bán lấy tiền tiêu xài thì M và H1 đồng ý.

Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 12/11/2023, K điện thoại cho M hẹn gặp K và H1 tại quán cà phê Phương A1 để cùng nhau đi cướp giật tài sản. Khoảng 07 giờ 00 cùng ngày, M điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu đỏ đen, biển số 62B1-378.37 đến quán cà phê Phương A1. Khi M vừa đến trước quán thì gặp K điều khiển xe mô tô loại Wave màu đỏ gắn biển số 51L2-7315 chở H1 ngồi phía sau. Cả 03 cùng nhau chạy xe đi kiếm tài sản để cướp giật, M điều khiển xe mô tô biển số 62B1-378.37 chạy trước, K điều khiển xe mô tô biển số 51L2-7315 chở H1 chạy sau. Trên đường đi, M thống nhất với H1 và K về việc M đi một mình và do xe có động cơ mạnh nên M sẽ trực tiếp giật dây chuyền của người dân, xe của K và H1 là loại xe Wave, động cơ yếu hơn sẽ thực hiện hành vi cản trở người dân truy đuổi, truy bắt.

M, K và H1 đi đường N vào đường Đ đến chợ D1, lúc này K và H1 chạy trước, M chạy phía sau. Khi K và H1 phát hiện bà Quách Thị T1 đang điều khiển 01 xe mô tô loại Honda Vision màu đỏ chở theo trẻ em phía sau, đi ngược chiều lại hướng vào khu Công nghiệp T, trên cổ bà T1 có đeo 01 dây chuyền màu vàng nên K cho xe quay lại, chạy theo bà T1. M thấy vậy nên cho xe quay lại chạy theo K và H1. Khi M đuổi kịp thì cả K và H1 cùng ra hiệu cho M biết bằng cách nháy mắt và hất mặt về phía bà T1 đang chạy phía trước, M biết đã xác định được tài sản phải giật là dây chuyền của bà T1. M điều khiển xe mô tô chạy lên theo sau bà T1 đến trước Công ty C2 trên đường D, khu Công nghiệp T C, thuộc ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thấy

khu vực vắng vẻ, M tăng tốc vượt lên bên phải cho xe áp sát bà T1, M dùng tay trái chụp, giật 01 dây chuyền bằng vàng 18K trọng lượng 3,08 chỉ có gắn 01 mặt dây bằng vàng 18K hình Phật, trọng lượng 9,7 phân của bà T1 đang đeo trên cổ làm dây chuyền bị đứt, rơi lại 01 mặt dây chuyền tại hiện trường. M giật được 01 đoạn dây chuyền dài khoảng 11cm của dây chuyền nêu trên rồi tăng ga tẩu thoát. K điều khiển xe mô tô chở H1 tăng ga chạy theo M nhưng không đi chung hướng. M cầm đoạn dây chuyền vừa giật được của bà T1 trên tay rồi điều khiển xe chạy vòng ra đường T, M đem bán đoạn dây chuyền giật được của bà T1 tại tiệm V1, địa chỉ số F Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Nguyễn Phú H2. Khi bán, M nói nhặt được dây chuyền trên đường và cần bán nên ông H2 đồng ý mua với giá 1.600.000 đồng.

Sau đó, K điện thoại cho M thì M hẹn gặp K và H1 tại đường L, bên hông nhà thờ T3, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi gặp K và H1, M nói rõ là dây chuyền bị đứt, bán được 1.600.000đồng. M chia tiền trực tiếp cho K và H1, mỗi người 500.000đồng, còn lại 100.000đồng Minh giữ lại mua xăng xe. M, K và H1 cùng đi về nhà, số tiền do cướp giật được mà có thì M, H1 và K đã tiêu xài cá nhân hết.

Bà T1 trình báo sự việc đến Công an thị trấn C trong cùng ngày. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khám nghiệm hiện trường, thu giữ mặt dây chuyền nêu trên. (Giấy kết quả thử nghiệm số 20122023/06 – PNJL-TNV của Công ty TNHH MTV G1 kết quả: Một mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có ký hiệu 610, có khối lượng 3,373 gram, hàm lượng vàng 61,59 %AU).

Ngày 13/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C mời H1 và K làm việc. M biết hành vi đã bị phát hiện nên M điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu đỏ đen biển số 62B1-378.37 bỏ trốn đến xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trên đường đi trốn, M đã gỡ bỏ biển số 62B1-378.37 và vứt điện thoại sử dụng liên lạc với K (không nhớ rõ địa điểm vứt bỏ), M mua tem màu trắng đen dán lên xe mô tô trên nhằm thay đổi đặc điểm của xe, tránh bị phát hiện.

Ngày 19/4/2024, Công an huyện C tìm được M, thu giữ của M 01 xe mô tô hiệu Yamaha loại Exciter màu trắng đen, không biển số, có số máy: 5P71-042164, số khung: RLCE5P710AY042173.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C làm việc M, K và H1 thì M, K và H1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C đã kết luận: 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18K, hình phật, trọng lượng 9,7 phân trị giá 4.325.424 đồng và 01 dây chuyền bằng vàng 18K, trọng lượng 3,08 chỉ trị giá 13.734.336 đồng, tổng trị giá 18.059.760 đồng, làm tròn là 18.060.000 đồng (BL284-285).

Vật chứng vụ án (BL310-315):

  • Thu giữ của Nguyễn Duy K: 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, có chữ Balance và số 336, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng sọc xanh, có chữ: KB VISION USA (mặc khi đi cướp giật tài sản); 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime, số seri R58HA266AVL (dùng liên lạc với M để đi cướp giật); 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số: 51L2-7315 số khung: RLHHC09084Y318727, số máy: HC09E3018734 (sử dụng đi cướp giật).
  • Thu giữ của Dương Triều H1: 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen đỏ, có chụp

kính bằng nhựa trong suốt, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 quần thun ngắn màu xanh, có số 9, không rõ nhãn hiệu (mặc khi đi cướp giật tài sản); 01 điện thoại hiệu Sam Sung màu vàng, số Imei 1: 358868/08/970640/0; số Imei 2: 358869/08/970640/8 (sử dụng liên lạc để đi cướp giật tài sản).

Thu giữ của Nguyễn Ngọc M: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu trắng đen, không biển số, có số máy 5P71-042164, số khung RLCE5P710AY042173; 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18K, hình phật, trọng lượng 9,7 phân có trọng lượng 3,373gram là tài sản của bà T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho bà T1.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử: Nguyễn Duy K và Nguyễn Ngọc M về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Dương Triều H1 về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh luận tội:

Giữ nguyên quan điểm theo Cáo trạng số 216/CT-VKS.CC ngày 29/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Lời khai của ba bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ. Ba bị cáo K, M và D điều khiển xe máy cướp giật dây chuyền của bị hại đang điều khiển xe máy thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy. Hai bị cáo K và M đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” là tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hai bị cáo Nguyễn Duy K và Nguyễn Ngọc M đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Dương Triều H1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo K là người chủ mưu, rủ rê hai bị cáo M và H1 cướp giật tài sản đồng thời cùng bị cáo H1 thực hiện nhiệm vụ cản trở người dân truy đuổi. Bị cáo M là người trực tiếp thực hiện hành vi giật dây chuyền của bà T1. Hành vi phạm tội của ba bị cáo là đồng phạm giản đơn nên không áp dụng tình tiết có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • - Đối với bị cáo Nguyễn Duy K: Bị cáo không có tiền sự. Bị cáo có 01 tiền án là ngày 24/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 28/3/2023 chấp hành xong hình phạt tù nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự nên không xem là tình tiết tăng nặng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại.
  • - Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M: Bị cáo không có tiền sự. Bị cáo có 01 tiền án là ngày 24/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 04/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự nên không xem là tình tiết tăng nặng; về nhân thân: Năm 2005, bị cáo bị Ủy ban nhân dân quận T áp

dụng biện pháp đưa vào trường G tại huyện L, tỉnh Đồng Nai đến năm 2007 chấp hành xong, đến ngày 12/02/2009 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản” đến ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại.

- Đối với bị cáo Dương Triều H1 không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố ba bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Ngọc M và Dương Triều H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”;

  • Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K từ 05 đến 06 năm tù.
  • Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Triều H1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Vật chứng:

  • - 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số: 51L2-7315 số khung: RLHHC09084Y318727, số máy: HC09E3018734 do ông Nguyễn Tuấn A làm chủ sở hữu. Ông Tuấn A mua xe của ông Nguyễn Minh H3 (sinh năm 1958, ngụ địa chỉ số C, L, Phường A, Quận H, Tp .) từ tháng 10/2023 nhưng chưa sang tên. Ngày 05/11/2023, ông Tuấn A đi du lịch tại Hải Phòng, ông Nguyễn Minh V (sinh năm 1989, nơi thường trú: Số H ấp T, xã T, huyện C, Tp .) mượn xe để sử dụng. Quá trình sử dụng, ông V để xe trong sân nhà. Ngày 12/11/2023, K mượn mô tô trên đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản cùng đồng bọn. Sau đó, K đem xe về trả lại chỗ cũ cho ông V. Khi Công an phát hiện, mời làm việc thì ông V mới biết sự việc K sử dụng xe mô tô trên để đi cướp giật tài sản. Ông Tuấn A xin nhận lại xe, đề nghị Hội đồng xét xử giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi thông báo và xử lý theo quy định của pháp luật.
  • - 01 (một) xe mô tô không biển số, hiệu Yamaha loại Exciter màu trắng đỏ đen, có số máy: 5P71-042164, số khung: RLCE5P710AY042173 do ông Tầng M2 (sinh năm 1965, nơi thường trú: Số D T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận) đứng tên chủ sở hữu. Ông M2 bị mất trộm chiếc xe vào năm 2011 tại thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Ông Tằng M1 không có quan hệ gì với Nguyễn Ngọc M và không liên quan đến hành vi Ngọc M sử dụng xe mô tô trên thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 12/11/2023. Ông Tằng M1 gửi đơn đến Công an huyện C xin nhận lại xe ngày 21/8/2024. Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe cho chủ sở hữu là ông Tằng M1.
  • - 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18K, hình phật, trọng lượng 9,7 phân có trọng lượng 3,373gram là tài sản của bà T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bà T1 là phù hợp.
  • - 01 điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime, số seri R58HA266AVL số Imei: 353415/08/541530/8, Imei: 353416/08/541530/6 của bị cáo K và 01 điện thoại hiệu SamSung màu vàng, số Imei: 358868/08/970640/0, số Imei: 358869/08/970640/8 của bị cáo H1, hai bị cáo sử dụng liên lạc đi cướp giật, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, có chữ Balance và số 336, đã qua sử dụng và 01 mũ bảo hiểm màu trắng sọc xanh, có chữ: KB VISION USA của bị cáo K mặc và sử dụng đi cướp giật đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
  • - 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen đỏ, có chụp kính bằng nhựa trong suốt, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 quần thun ngắn màu xanh, có số 9, không rõ nhãn hiệu của bị cáo H1 mặc khi đi cướp giật đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Minh P, là mẹ của bị cáo K, đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; ông Dương Thái S, là anh của bị cáo H1, đã bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; bà Lê Thị Đ, là mẹ của bị cáo M1, đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, tổng cộng là 12.000.000 đồng cho bà Quách Thị T1. Bà T1 không có yêu cầu gì thêm nên không xét.

Ba bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Ngọc M và Dương Triều H1 không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, ba bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ để ba bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, lời khai của ba bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Ngọc M và Dương Triều H1 phù hợp với nhau và phù hợp các chứng cứ có tại hồ sơ. Ba bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi điều khiển xe máy giật dây chuyền của bà Quách Thị T1 khi bà T1 đang điều khiển xe máy, theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tổng giá trị là 18.060.000 đồng, thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy. Hai bị cáo K và M đã bị kết án về tội “Cướp giật tài sản” là tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hai bị cáo Nguyễn Duy K và Nguyễn Ngọc M đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Dương Triều H1 đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Hành vi của ba bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Ba bị cáo nhận thức được việc cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài ba bị cáo vẫn bất chấp. Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo và giáo dục ba bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[2.1] Trong vụ án này bị cáo K là người chủ mưu, rủ rê hai bị cáo M và H1 cướp giật tài sản đồng thời là người điều khiển xe chở bị cáo H1 làm nhiệm vụ cản trở người dân truy đuổi. Bị cáo M là người trực tiếp thực hiện hành vi giật dây chuyền của bà T1. Hành vi phạm tội của ba bị cáo là đồng phạm giản đơn nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết có tổ chức theo điểm a khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng xem xét áp dụng hình phạt đối với hai bị cáo K và M nghiêm khắc hơn bị cáo H1.

[2.2] Bị cáo Nguyễn Duy K không có tiền sự. Bị cáo K có 01 tiền án: Ngày 24/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 28/3/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử không xem là tình tiết tăng nặng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại.

[2.3] Bị cáo Nguyễn Ngọc M không có tiền sự. Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 24/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 04/01/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung theo điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử không xem là tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2005, bị cáo bị Ủy ban nhân dân quận T áp dụng biện pháp đưa vào trường G tại huyện L, tỉnh Đồng Nai, đến năm 2007 chấp hành xong; ngày 12/02/2009, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản”, đến ngày 30/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại.

[2.4] Bị cáo Dương Triều H1 không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại.

Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ một phần hình phạt đối với ba bị cáo.

[3] Về dân sự: Bà Quách Thị T1 đã được người nhà của ba bị cáo bồi thường tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Bà T1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số: 51L2-7315 số khung: RLHHC09084Y318727, số máy: HC09E3018734 do ông Nguyễn Tuấn A mua của ông Nguyễn Minh H3 (ông H3 là người đứng tên chủ sở hữu xe, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ông H3 khai mua xe năm 2012 nhưng ông đã bán) từ tháng 10/2023 nhưng chưa sang tên. Ngày 05/11/2023, ông Tuấn A đi du lịch tại Hải Phòng. Ông Tuấn A không biết bị cáo K sử dụng xe để đi cướp giật tài sản. Ông Tuấn A xin nhận lại xe, Hội đồng xét xử quyết định trả lại xe cho ông Tuấn A.

Việc ông Tuấn A mua xe của ông H3 nhưng chưa sang tên, nếu sau này có ai tranh chấp về quyền sở hữu chiếc xe này thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.

  • 01 (một) xe mô tô không biển số, hiệu Yamaha loại Exciter màu trắng đỏ đen, có số máy: 5P71-042164, số khung: RLCE5P710AY042173 do ông Tằng M1 đứng tên chủ sở hữu. Ông M1 bị mất trộm chiếc xe vào năm 2011, tại thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận. Ông Tằng M1 không có quan hệ gì với bị cáo Nguyễn Ngọc M và không liên quan đến hành vi Ngọc M sử dụng xe mô tô trên thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 12/11/2023. Ông Tằng M1 gửi đơn đến Công an huyện C xin nhận lại xe ngày 21/8/2024. Hội đồng xét xử quyết định trả lại xe cho ông Tằng M1.
  • 01 mặt dây chuyền bằng vàng 18K, hình phật, trọng lượng 9,7 phân có trọng lượng 3,373gram là tài sản của bà T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bà T1 là phù hợp.
  • 01 điện thoại di động hiệu S1 J7 Prime, số seri R58HA266AVL số Imei: 353415/08/541530/8, Imei: 353416/08/541530/6 của bị cáo K và 01 điện thoại hiệu SamSung màu vàng, số Imei: 358868/08/970640/0, số Imei: 358869/08/970640/8 của bị cáo H1, hai bị cáo sử dụng liên lạc đi cướp giật, Hội đồng xét xử tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, có chữ Balance và số 336, đã qua sử dụng và 01 mũ bảo hiểm màu trắng sọc xanh, có chữ: KB VISION USA của bị cáo K mặc và sử dụng đi cướp giật, Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen đỏ, có chụp kính bằng nhựa trong suốt, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 quần thun ngắn màu xanh, có số 9, không rõ nhãn hiệu của bị cáo H1 mặc khi đi cướp giật, Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

[5] Tại biên bản lấy lời khai ông Nguyễn Phú H2, là chủ tiệm V1, địa chỉ số F Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20/4/2024 (BL43), ông H2 xác định: Thời gian từ ngày 12/11/2023 đến nay đã lâu, ông không nhớ việc mua bán nữ trang vì không lưu sổ sách, ông cũng chưa gặp bị cáo M1 lần nào. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý ông H2 là phù hợp.

[6] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “...Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án...”, Hội đồng xét xử buộc ba bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đề nghị của Kiểm sát viên như nêu trên là phù hợp.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố ba bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Ngọc M và Dương Triều H1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.

  • - Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.
  • - Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.
  • - Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Dương Triều H1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu, tiêu hủy: 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, có chữ Balance và số 336, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm màu trắng sọc xanh, có chữ: KB VISION USA; 01 áo khoác bằng vải thun màu đen, dài tay, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen đỏ, có chụp kính bằng nhựa trong suốt, không nhãn hiệu, đã qua sử dụng; 01 quần thun ngắn màu xanh, có số 9, không rõ nhãn hiệu.
  • + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, số seri R58HA266AVL, số Imei: 353415/08/541530/8, Imei: 353416/08/541530/6 và 01 điện thoại hiệu SamSung màu vàng, số Imei: 358868/08/970640/0, số I: 358869/08/970640/8.
  • + Trả cho ông Nguyễn Tuấn A 01 xe mô tô hiệu Wave màu đỏ biển số: 51L2-7315, số khung: RLHHC09084Y318727, số máy: HC09E3018734.
  • + Trả cho ông Tằng M1 01 (một) xe mô tô không biển số, hiệu Yamaha loại Exciter màu trắng đỏ đen, số máy: 5P71-042164, số khung: RLCE5P710AY042173.

Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại các phiếu nhập kho vật chứng số 13/PNK-CSĐT-HS ngày 22/12/2023, số 19/PNK-CSĐT-HS ngày 28/12/2023 và số 170/PNK-ĐCSHS ngày 02/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C (BL311,313,315).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc ba bị cáo Nguyễn Duy K, Nguyễn Ngọc M và Dương Triều H1 mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Ba bị cáo và ông Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo (03);
  • - VKSND huyện Củ Chi (02);
  • - Công an huyện Củ Chi (02);
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi (01);
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh (01);
  • - Bộ phận THA hình sự (06);
  • - Bị hại (01);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (02)
  • Lưu: VT, Hồ sơ vụ án (02).
  • 10

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/HSST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản

  • Số bản án: 249/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger