TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 249/2024/HNGĐ-ST Ngày 28/8/2024 V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Lê Quế Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Màu;
Ông Tống Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Liêu– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 409/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Bích X, sinh năm: 1994; (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh K.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thiện T, sinh năm: 1990; (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 679 tổ 35, khu 2, thị trấn C, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Bích X trình bày:
Chị và anh Nguyễn Thiện T chung sống vợ chồng với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 01/7/2020. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về kinh tế, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Vì thế về tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn anh T;
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần Nhã L, sinh ngày 02/10/2020 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 01/7/2023, hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Thiện T trình bày:
Anh và chị X chung sống vợ chồng với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về kinh tế, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Anh và chị X đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay anh đồng ý ly hôn chị X.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần Nhã L, sinh ngày 02/10/2020 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 01/7/2023. Khi ly hôn anh đồng ý giao 02 con chung là cháu L và cháu K cho chị X nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị Bích X, bị đơn anh Nguyễn Thiện T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị X, anh T.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, chị X yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn và nuôi con với anh T nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh T có nơi cư trú tại huyện Cái Bè nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị X và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Tân Hiệp A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 50 ngày 01/7/2020 nên là hôn nhân hợp pháp. Chị X cho rằng chị và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống về kinh tế, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nay chị X xác định mâu thuẫn không thể giải quyết được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị X yêu cầu được ly hôn với anh T. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T cũng có ý kiến trình bày anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị X. Xét thấy sự thuận tình ly hôn của chị X và anh T là tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị X và anh T về việc giao 02 con chung tên Nguyễn Trần Nhã L, sinh ngày 02/10/2020 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 01/7/2023 cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này có yêu cầu thì khởi kiện bằng vụ án khác.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị X và anh T trình bày không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Chị X phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Bích X.
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Bích X và anh Nguyễn Thiện T.
Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Trần Nhã L, sinh ngày 02/10/2020 và Nguyễn Minh K, sinh ngày 01/7/2023 cho chị Trần Thị Bích X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Nguyễn Thiện T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
2. Về án phí: Chị Trần Thị Bích X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị X đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0015636 ngày 17/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Vậy chị X đã thi hành xong án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị Bích X, bị đơn anh Nguyễn Thiện T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Lê Quế Thanh |
Bản án số 249/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 249/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
