Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 249/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-7-2024

Về tranh chấp: Ly hôn và con chung

giữa chị Phạm Thị Thảo và anh

Mai Ngọc Tân

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Kim Thành

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 ngày 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1989; số căn cước công dân [...]; địa chỉ đăng ký thường trú và nơi cư trú: số E T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Mai Ngọc T1, sinh năm 1989; số căn cước công dân [...]; địa chỉ đăng ký thường trú: số E V, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: số G đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa chị T, anh T1 có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 25-01-2019 tại UBND phường C, thành phố N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống chung nảy sinh nhiều bất đồng, hai bên không hòa hợp về tính cách, không bảo ban được nhau nên thường xuyên xảy ra va chạm. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện, cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng đều không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 4 năm 2022 đến nay vợ chồng sống ly thân, mỗi người ở một nơi, chị đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại địa chỉ số E đường T, phường T, thành phố N để ở. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, khắc phục được nữa, nên chị T đề nghị Tòa án cho chị ly hôn với anh T1.

    Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Mai Ngọc An N, sinh ngày 25-7-2020 (giới tính: Nữ). Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con: vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Về tài sản chung và công nợ chung: chị Phạm Thị T xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

  2. Tại bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn là anh Mai Ngọc T1 trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân: Thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị T trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên chưa nhất trí trong quan điểm của cuộc sống chung, vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn bất đồng giữa mẹ chồng, nàng dâu. Mâu thuẫn xảy ra từ năm 2022 và đến nay hai bên không giải quyết được, vợ chồng đã trao đổi với nhau về cuộc sống chung, về việc nuôi con nhưng cũng không có kết quả. Từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay vợ chồng sống ly thân, chị T chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nay chị T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh T1 không nhất trí ly hôn với chị T.

    Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung là Mai Ngọc An N, sinh ngày 25-7-2020 (giới tính: Nữ). Nếu ly hôn anh T1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con: vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  3. Tại phiên tòa:
    • - Về quan hệ hôn nhân:

      Chị Phạm Thị T trình bày cuộc sống chung vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bên cạnh mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh thêm mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu, mâu thuẫn giữa con rể với gia đình nhà vợ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa nên chị giữ nguyên quan điểm đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh T1. Quan điểm của anh Mai Ngọc T1 không nhất trí ly hôn với chị T

    • - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Mai Ngọc An N, sinh ngày 25-7-2020 (giới tính: Nữ). Chị T và anh T1 đều có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con: hai bên tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết
    • - Về tài sản chung và công nợ chung: chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1 xác định không có tài sản chung và không có công nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
  4. Tại đơn đề nghị ngày 28-5-2024 của chị Phạm Thị T có xác nhận của địa phương nơi chị T hiện đang cư trú: chị T và anh T1 kết hôn tháng 01 năm 2019 tại UBND phường C, thành phố N. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, từ tháng 4-2022 vợ chồng sống ly thân, chị T đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại số E đường T, phường T, Thành phố N để sinh sống. Vợ chồng có một con chung là cháu Mai Ngọc An N sinh ngày 25-7-2020 (giới tính: Nữ).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Mai Ngọc T1. Xét thấy, tranh chấp giữa chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Mai Ngọc T1 có nơi cư trú: số G đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn 25-01-2019 tại UBND phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định nên là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do hai bên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, bên cạnh đó lại phát sinh ra những mâu thuẫn giữa chị T với gia đình nhà chồng, giữa anh T1 với gia đình nhà vợ. Mặc dù hai bên đã nói chuyện, trao đổi nhằm khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nhưng chị T vẫn giữ quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh T1 không nhất trí ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1 mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1.

[3] Về nuôi con chung: Chị T và anh T1 đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Mai Ngọc An N, sinh ngày 25-7-2020 (giới tính: Nữ).

Xét thấy việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cả vợ và chồng, nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung của chị T và anh T1 đều là chính đáng, anh chị đều có công việc ổn định, có thu nhập đảm bảo được việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, chị T và anh T1 không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con nên hội đồng xét xử sẽ xem xét các quy định của pháp luật để giao con căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con chung. Cháu Mai Ngọc An N còn nhỏ, cháu lại là con gái nên cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, vì vậy HĐXX căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Phạm Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Mai Ngọc An N, sinh ngày 25-7-2020.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: hai bên đều có quan điểm tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1 xác định không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị T phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị T trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Mai Ngọc An N, sinh ngày 25-7-2020 (giới tính: Nữ). Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T và anh Tân tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

    Anh Mai Ngọc T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị T nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Phạm Thị T đã nộp tại biên lai số 0002134 ngày 23-5-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định
  4. Quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T và anh Mai Ngọc T1 có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị T và anh T1 có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND thành phố Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - UBND P. Cửa Nam, tp Nam Định (03.2019);
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Hà

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn và con chung

  • Số bản án: 249/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger