|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 249/2024/DS-PT Ngày: 15/5/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- - Các Thẩm phán: Ông Đinh Chí Tâm
- Ông Nguyễn Chí Dững
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 15/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 120/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 95/2023/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 218/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hiếu T, sinh năm: 1984.
- Bị đơn:
- Anh Phan Văn H, sinh năm: 1982.
- Anh Phan Văn H1, sinh năm: 1983.
- Anh Phan Văn N, sinh năm: 1992.
- Chị Phan Thị H2, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi ở hiện nay: Số A L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Ông Phan Văn H1 là bị đơn của vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Hiếu T trình bày:
Trước đây, ngày 19/4/2023 anh T có thỏa thuận đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng cho anh H, anh H1, chị H2, anh N để nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số 391, tờ bản đồ số 40, trong diện tích 2.564,3m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Phần đất anh T thỏa thuận chuyển nhượng với anh H, anh H1, chị H2, anh N như sau: chiều ngang 36m, dài 28m, chưa trừ đường, bắt đầu từ hướng đường đan đi vào, giá tiền chuyển nhượng đất là 1.200.000 đồng/m². Vào trưa ngày 19/4/2023 tại quán C đường ĐT 853 thuộc xã T lúc đó có anh T, anh H1, chị H2, anh Kiều Thanh T1, chị Nguyễn Ngọc Minh T2; anh T với anh H1, chị H2 làm Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền cùng ngày 19/4/2023 (biên nhận này do phía anh T đánh máy sẵn và tại quán cà phê do anh T viết thêm nội dung). Sau khi viết xong nội dung thì anh T và chị H2 mang Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền này đến nhà anh H cho anh H ký tên vào trước, tiếp đó trở lại quán cà phê trên, anh T giao số tiền cọc 200.000.000 đồng cho anh H1, chị H2 trực tiếp nhận; khi nhận tiền xong anh H1, chị H2 ký tên vào Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền này, anh T, anh T1, chị T2 cũng có ký tên; đến chiều cùng ngày thì anh T mang Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền này vào nhà anh N cho anh N ký tên.
Khi đặt cọc tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì diện tích đất thỏa thuận nhận chuyển nhượng do ông Phan Văn N1 là cha ruột của anh H, anh H1, chị H2, anh N đứng tên quyền sử dụng đất (ông N1 đứng tên toàn bộ thửa đất 391, tờ bản đồ số 40). Lúc đó, anh H, anh H1, chị H2, anh N nói ông N1 ủy quyền cho anh H, anh H1, chị H2, anh N chuyển nhượng đất và anh T có xác minh ở Ủy ban nhân dân xã A H, anh H1, chị H2, anh Nghĩa là con ruột của ông N1, vợ ông N1 đã chết.
Theo thỏa thuận thì anh H, anh H1, chị H2, anh N sẽ làm thủ tục đo đạc tách thửa phần đất thỏa thuận chuyển nhượng cho anh T, sau đó sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất cho anh T. Khi tiến hành đo đạc để tách thửa phần đất chuyển nhượng cho anh T thì phía anh H, anh H1, chị H2, anh N lại yêu cầu tính tiền luôn cả phần đường đan, mé kênh thủy lợi vào diện tích đất chuyển nhượng cho anh T (lúc trước thỏa thuận là không tính đường đan, mé kênh thủy lợi vào phần đất chuyển nhượng và anh T được sử dụng đường đan, mé kênh thủy lợi mà không phải trả tiền). Do phát sinh tranh chấp không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được nên anh T yêu cầu anh H, anh H1, chị H2, anh N trả lại cho anh T tiền cọc 200.000.000 đồng và tiền phạt cọc, nhưng anh H, anh H1, chị H2, anh N không đồng ý đến nay.
Tại phiên tòa hôm nay anh T yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/4/2023 giữa anh T với anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N; vì giữa anh T với anh H, anh H1, chị H2, anh N không thống nhất được việc không tính đường đan, mé kênh thủy lợi vào phần đất chuyển nhượng và anh T được sử dụng đường đan, mé kênh thủy lợi mà không phải trả tiền. Yêu cầu anh H, anh H1, chị H2, anh N cùng liên đới trả lại cho anh T số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 200.000.000 đồng, không yêu cầu phạt cọc. Anh T không có tranh chấp, không yêu cầu giao phần đất nào của thửa đất 391, tờ bản đồ số 40 cho anh T. Ngoài ra, anh Nguyễn Hiếu T không có yêu cầu gì khác.
* Các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2 trình bày:
Trước đây, ngày 19/4/2023 anh T có thỏa thuận đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng cho anh H, anh H1, chị H2, anh N để anh T nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số 391, tờ bản đồ số 40, trong diện tích 2.564,3m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp do cha anh H, anh H1, chị H2, anh Nghĩa là ông Phan Văn N1 đứng tên quyền sử dụng đất. Phần đất thỏa thuận chuyển nhượng như sau: chiều ngang 36m, dài 28m, chưa trừ đường, bắt đầu từ hướng đường đan đi vào, giá tiền chuyển nhượng đất là 1.200.000 đồng/m².
Vào trưa ngày 19/4/2023 tại quán C đường ĐT 853 thuộc xã T lúc đó có anh T, anh H1, chị H2, anh Kiều Thanh T1, chị Nguyễn Ngọc Minh T2; anh T với anh H1, chị H2 làm Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền cùng ngày 19/4/2023 (biên nhận này do phía anh T đánh máy sẵn và tại quán cà phê do anh T viết thêm nội dung). Sau khi viết xong nội dung thì anh T và chị H2 mang Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền này đến nhà anh H cho anh H ký tên vào trước, tiếp đó trở lại quán cà phê trên, anh T giao số tiền cọc 200.000.000 đồng cho anh H1, chị H2 trực tiếp nhận; khi nhận tiền xong anh H1, chị H2 ký tên vào Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền này, anh T, anh T1, chị T2 cũng có ký tên; đến chiều cùng ngày thì anh T mang Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền này vào nhà anh N cho anh N ký tên. Số tiền cọc 200.000.000 đồng này chị H2 giao toàn bộ cho anh H1 và chỉ có một mình anh H1 sử dụng số tiền này, anh H, chị H2, anh N không có cùng với anh H1 sử dụng số tiền cọc 200.000.000 đồng này.
Theo thỏa thuận thì anh H, anh H1, chị H2, anh N sẽ làm thủ tục đo đạc tách thửa phần đất thỏa thuận chuyển nhượng cho anh T, sau đó sẽ ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất cho anh T. Khi tiến hành đo đạc để tách thửa phần đất chuyển nhượng cho anh T thì phía anh T lại yêu cầu được sử dụng phần đường đan, mé kênh thủy lợi mà không trả tiền, nhưng thực tế trước đây không có thỏa thuận vấn đề này, nên tranh chấp đến nay.
Do giữa anh H, anh H1, chị H2, anh N với anh T không thống nhất được việc tính đường đan, mé kênh thủy lợi vào phần đất chuyển nhượng và anh T phải trả tiền phần đất này. Nên nay anh H1, chị H2 đồng ý tuyên bố vô hiệu hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/4/2023 giữa anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N với anh T. Anh H1 đồng ý chỉ một mình trả lại cho anh T số tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận là 200.000.000 đồng, nhưng chỉ đồng ý trả lại số tiền này cho anh T khi bán (chuyển nhượng) được một phần thửa đất số 391, tờ bản đồ số 40. Ngoài ra, anh H1, chị H2 không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn anh Phan Văn H, anh Phan Văn N có đơn yêu cầu vắng mặt. Tuy nhiên, có ý kiến như sau:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày, ý kiến, yêu cầu của anh H1, chị H2. Ngoài ra, anh H, anh N không có yêu cầu gì khác.
* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số: 95/2023/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hiếu T.
- Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/4/2023 giữa anh Nguyễn Hiếu T và anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N.
- Về án phí sơ thẩm:
- + Anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N phải liên đới chịu 10.300.000đ (Mười triệu ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N cùng liên đới trả lại cho anh Nguyễn Hiếu T số tiền nhận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
+ Anh Nguyễn Hiếu T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 7.175.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001551 ngày 18/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/01/2024, anh Phan Văn H1 kháng cáo yêu cầu công nhận và tiếp tục hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSDĐ ngày 19/4/2023 với anh Nguyễn Hiếu T; không đồng ý chịu án phí sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm;
- + Anh Phan Văn H1 vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến: Xét kháng cáo của anh H1 là không có căn cứ; nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh H1.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của anh Phan Văn H1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn Nguyễn Hiếu T và các bị đơn Phan Văn H, Phan Văn H1, Phan Thị H2, Phan Văn N đều thừa nhận rằng vào ngày 19/4/2023 anh T có thỏa thuận đặt cọc số tiền 200.000.000 đồng cho anh H, anh H1, chị H2, anh N để nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số 391, tờ bản đồ số 40, trong diện tích 2.564,3m², mục đích sử dụng đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp do cha ruột của anh H, anh H1, chị H2, anh Nghĩa là ông Phan Văn N1 đứng tên quyền sử dụng đất, chết để lại. Trong ngày 19/4/2023 anh T giao số tiền cọc 200.000.000 đồng cho anh H1, chị H2 trực tiếp nhận. Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nhận tiền cùng ngày 19/4/2023 đều có chữ ký tên của nguyên đơn anh Nguyễn Hiếu T, các bị đơn anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N.
Xét thấy, tại thời điểm các bên thỏa thuận chuyển nhượng, thì phần đất nói trên vẫn còn là di sản thừa kế của ông N1 để lại; các bị đơn, là các con ông N1 cũng chưa thỏa thuận phân chia cũng như làm thủ tục kê khai nhận di sản thừa kế và được đứng tên đối với phần đất này, nên việc thỏa thuận chuyển nhượng đó là vô hiệu và vì vậy việc đặt cọc chuyển nhượng cũng vô hiệu. Mặc dù vậy, tại cấp sơ thẩm cũng như theo yêu cầu của nguyên đơn, hai bên đương sự cũng thống nhất chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu và giải quyết hậu quả về số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng mà nguyên đơn đã giao cho phía bị đơn. Nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tuyên bố vô hiệu Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/4/2023 giữa anh Nguyễn Hiếu T và anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N và buộc phía bị đơn phải trả lại số tiền cọc chuyển nhượng 200.000.000 đồng cho phía nguyên đơn, là phù hợp.
Đối với việc xác định những người có nghĩa vụ trả lại số tiền đặt cọc chuyển nhượng cho anh T, thì mặc dù đối với anh H và anh N không trực tiếp nhận số tiền cọc 200.000.000 đồng từ anh T; còn anh H1, chị H2 cho rằng số tiền 200.000.000 đồng sau khi nhận từ anh T thì chỉ một mình anh H1 quản lý, sử dụng toàn bộ số tiền này, nên các bị đơn chỉ đồng ý một mình anh H1 là người có nghĩa vụ trả lại số tiền đặt cọc cho anh T; anh T không đồng ý mà yêu cầu tất cả các bị đơn phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền đặt cọc cho anh, thì Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào việc chị H2, anh H, anh N cùng với anh H1 cùng ký tên chỗ đại diện bên A (bên bán) trong Hợp đồng đặt cọc cũng như ký tên chỗ người nhận tiền trong Biên nhận nhận tiền cùng ngày 19/4/2023, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định ý chí của anh H, chị H2, anh N cùng với anh H1 là những người nhận tiền và buộc anh H, anh H1, chị H2, anh N phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho anh T số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng cho anh T cũng là phù hợp.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hiếu T; tuyên bố vô hiệu Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/4/2023 giữa anh Nguyễn Hiếu T và anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N; Buộc anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N cùng liên đới trả lại cho anh Nguyễn Hiếu T số tiền nhận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất 200.000.000 đồng và liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm, là hoàn toàn có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh H1 cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên anh H1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 122, 123, 131, 132, 166, 328, 357, 408, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 100, 166, 167, 168, 179 Luật đất đai năm 2013;
Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của anh Phan Văn H1.
- - Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2023/DS-ST ngày 19/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hiếu T.
- Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/4/2023 giữa anh Nguyễn Hiếu T và anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N.
- Về án phí sơ thẩm:
- + Anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N phải liên đới chịu 10.300.000đ (Mười triệu ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Phan Văn H, anh Phan Văn H1, chị Phan Thị H2, anh Phan Văn N cùng liên đới trả lại cho anh Nguyễn Hiếu T số tiền nhận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
+ Anh Nguyễn Hiếu T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 7.175.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0001551 ngày 18/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.
4. Về án phí phúc thẩm: anh Phan Văn H1 phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà anh đã nộp theo biên lai số 0003920 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc. Anh H1 đã nộp xong án phí phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
Bản án số 249/2024/DS-PT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 249/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hiếu T, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Số A L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. 2. Bị đơn: 2.1. Anh Phan Văn H, sinh năm: 1982. 2.2. Anh Phan Văn H1, sinh năm: 1983. 2.3. Anh Phan Văn N, sinh năm: 1992. Cùng địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. 2.4. Chị Phan Thị H2, sinh năm: 1985. Địa chỉ: Số B, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
