Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2024/HS-ST

Ngày 07/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bạn

  2. Bà Võ Thị Bời

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 284/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Ánh H, sinh năm 1980 tại: Khánh Hòa; Nơi cư trú: A N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: A N, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức T (chết); con bà Nguyễn Thị H1 – Sinh năm 1956; Có chồng và hai con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Bà Lê Thị P, sinh năm 1988;

Nơi cư trú: 58/74/13/27 L, N, N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thanh C, sinh năm: 1980

Nơi cư trú: A N, L, N, Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  • Ông Hồ Ngọc T1 – sinh năm 1964

  • Nơi cư trú: A T, T, N, Khánh Hòa

  • Bà Trần Thị Hữu H2 – sinh năm 1962

  • Nơi cư trú: Tổ A, V, N, N, Khánh Hòa

Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/4/2024, Nguyễn Thị Ánh Hồng điều khiển xe máy hiệu Honda SH Mode, BKS 79NA-143.05 đến trước nhà có địa chỉ D V, phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa để mua bánh mì của chị Lê Thị P đang bán ngoài vỉa hè. Trong lúc đang chờ chị P lấy bánh mì, H quan sát thấy trong rổ bánh mì có một túi nhựa màu vàng bên trong có nhiều tờ tiền Việt Nam đồng, mệnh giá khác nhau, trong đó có một xấp tờ tiền Polyme được cột lại bằng dây thun nên lợi dụng sơ hở của chị P, H đưa tay vào lấy xấp tờ tiền Polyme cất giấu vào trong túi của váy chống nắng đang mặc và tiếp tục đứng chờ lấy bánh mì. Sau khi mua xong bánh mì, Hồng điều khiển xe máy đi sang phía đối diện để xe máy đi bộ vào chợ X. Lúc này, bà Trần Thị Hữu H2-là người chứng kiến sự việc H lấy trộm tiền của chị P nên đã nói với chị P biết sự việc. Sau khi kiểm tra thấy mất tiền, chị P chạy đuổi theo, giữ được H và tìm thấy xấp tiền trong túi váy chống nắng của H nên đưa H về trụ sở Công an phường T để làm việc.

Tại trụ sở Công an, qua kiểm đếm số tiền Nguyễn Thị Ánh H lấy trộm của chị Lê Thị P gồm: 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 17 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 14 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. Tổng cộng là 5.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Vật chứng vụ án thu giữ:

  • 01 USB lưu giữ hình ảnh;

  • Số tiền 5.000.000 đồng gồm: 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 03 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 17 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 14 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng đã trả lại cho chủ sở hữu bà Lê Thị P.

  • 01 xe máy hiệu Honda SH Mode, BKS 79NA-143.05 đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp ông Nguyễn Thanh C.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và bổ sung cho bị cáo thêm tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s, h khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

  • Số tiền mặt 5.000.000 đồng đã được Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý trả cho chủ sở hữu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

  • 01(Một) xe máy hiệu Honda SH Mode, biển kiểm soát 79NA-143.05 đã trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Thanh C nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Bị hại bà Lê Thị P, người làm chứng: Ông Hồ Ngọc T1, bà Trần Thị Hữu H2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở để kết luận, bị cáo Nguyễn Thị Ánh H đã chiếm đoạt tài sản của bị hại bà Lê Thị P.

Như vậy, Cáo trạng số 253/CT-VKS-HS ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ánh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt tài sản của công dân, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân, cũng như gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu đối với bị cáo, hiện bị cáo còn đang nuôi hai con nhỏ ăn học. Hội đồng xét xử cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ vừa nêu giảm cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện các nguyên tắc nhân đạo, công bằng của chính sách hình sự của Nhà nước.

[4] Về căn cứ quyết định hình phạt: Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo H là từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự. Theo quy định Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao quy định về điều kiện cho người bị kết án phạt tù cho hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP, xét thấy có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp và để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Số tiền mặt 5.000.000 đồng đã được Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý trả cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  • 01 xe máy hiệu Honda SH Mode, biển kiểm soát 79NA-143.05 đã trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn Thanh C nên Hội đồng xét xử không xem xét

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, i, h khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

  1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Ánh H cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

  2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh H nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;

  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;

  • - VKSND TP. Nha Trang;

  • - CQ CSĐT Công an TP. Nha Trang;

  • - CQ THAHS Công an TP. Nha Trang;

  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang;

  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;

  • - Những người tham gia tố tụng;

  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Cát Hoàng Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 249/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ánh Hồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger