|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 249/2024/HS-ST Ngày: 03/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Phụng
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 5 và 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2024/QĐXXST–HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Mai Vũ Đức H, sinh năm: 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: 417/12 S X Hà Nội, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: (không rõ) và bà Mai Thị Kim T; chưa có vợ con; tiền án: - Bản án số 218/2015/HSST ngày 26/6/2015, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2019, đã đóng án phí ngày 21/10/2015; - Bản án số 240/2021/HSST ngày 02/6/2021, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội 'Tàng trữ trái phép chất ma túy" (hành vi tàng trữ 0,0584 gam Methamphetamine), chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2022, đã đóng án phí ngày 24/12/2021; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam ngày: 14/7/2023. (có mặt)
- Nguyễn Trung T1, sinh năm: 1975 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: 79 đường số A, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T2 và bà Lê Thị H1; chưa có vợ con; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: - Bản án số 332/HSST ngày 13/6/1992, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Phá hủy phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”; - Bản án số 139/HS-ST ngày 30/12/1994, Tòa án nhân dân huyện Thủ Đức xử phạt 06 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 332/HS-ST ngày 13/6/1992, hình phạt chung là 42 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/1997, đã đóng án phí; - Ngày 01/10/2007, chấp hành xong biện pháp quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện tại Trung tâm G; - Quyết định số 129/QĐ-TA ngày 26/4/2017, Tòa án nhân dân quận Thủ Đức áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 24 tháng, chấp hành xong thời gian cai nghiện ngày 05/5/2019; bị bắt, tạm giam ngày: 14/7/2023. (có mặt)
- Lê Thanh P, sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận; nơi ở: Nhà không số, đường số B, khu phố H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T3 và bà: Nguyễn Thị P1; có vợ là Nguyễn Thị H2 và 01 con sinh năm 2013; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: - Bản án số 70/2007/HSST ngày 15/3/2007, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 36 tháng tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2009, đã đóng án phí; - Bản án số 115/2011/HSST ngày 23/8/2011, Tòa án nhân dân Quận 9 xử phạt 01 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/5/2012, đã đóng án phí; - Ngày 10/12/2013, Công an phường T, quận T xử phạt hành chính về hành vi trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác; - Quyết định số 508/QĐ-TA ngày 13/9/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 18 tháng, chấp hành xong thời gian cai nghiện ngày 22/12/2019; bị bắt, tạm giam ngày: 14/7/2023. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Mai Thị Kim T, sinh năm: 1968.
Địa chỉ: 4 S X Hà Nội, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Vào lúc 11 giờ 20 phút ngày 14/07/2023, Công an tiến hành kiểm tra hành chính nhà không số, đường số B, khu phố H, phường T, thành phố T do Lê Thanh P làm chủ hộ, phát hiện Lê Thanh P, Mai Vũ Đức H3 và Nguyễn Trung T1 đang sử dụng trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy và 01 bình nhựa có gắn nỏ, ống hút dùng làm dụng cụ sử dụng ma túy. Khi tiến hành khám xét, thu giữ: trên bàn phòng khách có 01 gói nylon chứa thảo mộc khô, là ma túy; trong kệ tủ bếp: 01 gói nylon màu vàng bên ngoài ghi chữ trà xanh nguyên chất bên trong chứa thảo mộc khô và 01 gói nylon chứa thảo mộc khô khác.
Quá trình điều tra chứng minh được:
Khoảng 10 giờ ngày 14/07/2023, Mai Vũ Đức H3 điều khiển xe mô tô biển số 59X3-44992 đến ngã ba đường số B và đường C, phường T gặp người tên H4 (không rõ lai lịch) mua được gói ma túy với giá 200.000 đồng nhưng nói với H4 là cứ giữ giùm. Số ma túy này là H4 đi giao giùm cho người phụ nữ tên M (không rõ lai lịch) mà H3 đã liên hệ mua ma túy trước đó. Tại đây, H3 rủ H4 cùng đi tìm chỗ sử dụng ma túy thì H4 đồng ý, dụng cụ sử dụng ma túy H3 đã chuẩn bị sẵn bỏ vào túi quần. Lúc này, Nguyễn Trung T1 cũng điều khiển xe mô tô đến thì H3 cũng rủ T1 đi tìm nơi sử dụng ma túy vì T1 là bạn nghiện của H3. T1 dẫn H3, H4 đến nhà của Lê Thanh P, là bạn nghiện ma túy của T1 nhưng P không ở nhà. T1 cùng H3, H4 đi tìm P thì gặp P ở đường số B, phường T. T1 nói với P là cho về nhà P sử dụng ma túy thì P đồng ý rồi cả nhóm đi về nhà P. Tại đây, H3 lấy vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu Sting rồi đục lỗ trên nắp chai để gắn ống hút nhựa và ống thủy tinh có một đầu hình phễu (nỏ) do H3 mang theo rồi đưa cho H4. H4 lấy gói ma túy mà H3 đặt mua trước đó, đổ một ít ma túy vào nỏ bật quẹt đốt hút trước rồi lần lượt đến H3 và T1. Riêng P không hút mà đi vào tủ kệ tủ bếp chiết một ít thảo mộc khô có tẩm ướp ma túy bỏ vào bịch nylon để đem ra phòng khách hút, số còn lại P cất vào vị trí cũ. Khi P đi ra phòng khách thì H4 nói đi ra ngoài mua nước uống. Một lúc sau, Công an đến kiểm tra phát hiện vụ việc nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như đã nêu trên. Mở rộng điều tra xác định ngoài vụ việc nêu trên thì khoảng trước đó một tuần, T1 cũng dẫn H3 đến nhà của P để sử dụng ma túy, H1 mang ma túy và dụng cụ sử dụng đến, P không sử dụng ma túy cùng mà cho H3 và T1 mượn địa điểm của mình để sử dụng ma túy.
Kết luận giám định số 7769/KL-KTHS ngày 17/07/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Mai Vũ Đức H3 bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0767 gam, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 5426/KL-KTHS ngày 07/9/2023 của P2 - Bộ C kết luận: 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thanh P bên trong có:
- Gói 01: 01 gói nylon chứa thảo mộc khô. Thảo mộc khô là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA, khối lượng: 1,6362 gam.
- Gói 02: 01 gói nylon màu vàng bên ngoài ghi chữ “Trà xanh nguyên chất” bên trong chứa thảo mộc khô và 01 gói nylon chứa thảo mộc khô. Thảo mộc khô là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA, khối lượng: 51,1207 gam.
Ngày 05/02/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định tách hành vi của Lê Thanh P về việc tàng trữ trái phép chất ma túy là thảo mộc khô, có tổng khối lượng 52,7569 gam, loại MDMB-4en-PINACA. Ngày 04/5/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự do hành vi tàng trữ 52,7569 gam ma túy là thảo mộc khô, loại MDMB-4en-PINACA chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon chứa thảo mộc khô là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA, khối lượng: 1,6362 gam ; 01 gói nylon màu vàng bên ngoài ghi chữ “Trà xanh nguyên chất” bên trong chứa thảo mộc khô và 01 gói nylon chứa thảo mộc khô. Thảo mộc khô là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA, khối lượng: 51,1207 gam. Tổng khối lượng là 52,7569 gam, loại: MDMB-4en-PINACA, thu giữ của Lê Thanh P. Cơ quan điều tra tách vật chứng cùng với quyết định tách hành vi tàng trữ 52,7569 gam thảo mộc khô là ma túy, loại: MDMB-4en-PINACA vào ngày 05/02/2024.
- 01 gói nylon chứa ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0767 gam. Thu giữ của Mai Vũ Đức H3.
- 01 bình nhựa có nắp được đục lỗ gắn ống hút nhựa và gắn một ống thuỷ tinh có đầu phễu, được dùng để sử dụng ma tuý đá.
- 01 điện thoại di động Iphone màu hồng, thu giữ của Nguyễn Trung T1.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo đỏ đen, thu giữ của Mai Vũ Đức H3.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vission biển số 59X3-449.92, thu giữ của Mai Vũ Đức H3. Qua xác minh, xe do H3 đứng tên, H3 khai nhận đứng tên xe giùm cho mẹ là bà Mai Thị Kim T. Bà T cho biết do bà đứng tên hợp đồng mua trả góp của một xe khác nên không được tiếp tục đứng tên hợp đồng mua trả góp xe Honda Vission biển số 59X3-449.92, do vậy bà nhờ H3 đứng tên xe giùm và dùng tiền lương hưu đóng trả góp hàng tháng.
Tại Bản Cáo trạng số 147/CT-VKSTPTĐ ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố các bị cáo:
- Mai Vũ Đức H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Nguyễn Trung T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Lê Thanh P về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, các bị cáo Mai Vũ Đức H3, Nguyễn Trung T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Lê Thanh P trình bày: Nhà không số tại đường số B, khu phố H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không phải là nhà của bị cáo, bị cáo chỉ ở nhờ và cũng không cho Nguyễn Trung T1, Mai Vũ Đức H3, H4 vào sử dụng ma túy. Bị cáo thừa nhận số thảo mộc khô thu giữ ở bàn, ở kệ tủ bếp là của bị cáo. Bị cáo xác định bị cáo không phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Mai Vũ Đức H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Trung T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Lê Thanh P về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại bản cáo trạng, đề nghị truy tố bị cáo H3 phạm tội với tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, tại phiên tòa, Viện kiểm sát rút truy tố tình tiết tăng nặng này.
Đề nghị xử phạt bị cáo Mai Vũ Đức H3 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Trung T1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; bị cáo Lê Thanh P từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thanh P tại Cơ quan điều tra và lời khai của các bị cáo Mai Vũ Đức H3, Nguyễn Trung T1 là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và các biên bản hoạt động điều tra khác... Từ đó có đủ căn cứ xác định:
Vào khoảng 10 giờ ngày 14/7/2023, bị cáo Mai Vũ Đức H3 mua ma túy của một người tên M (không rõ lai lịch) để sử dụng. Khi H4 (không rõ lai lịch) giao ma túy thì bị cáo H3 rủ H4 và bị cáo Nguyễn Trung T1 tìm nơi sử dụng ma túy, bị cáo H3 đã chuẩn bị sẵn dụng cụ để sử dụng ma túy. Bị cáo T1 dẫn bị cáo H3 và tên H4 đi tìm bị cáo Lê Thanh P để mượn nhà bị cáo P sử dụng ma túy thì bị cáo P đồng ý. Tại nhà không số, đường số B, khu phố H, phường T, thành phố T của bị cáo P, các bị cáo H3, T1 và tên H4 cùng sử dụng ma túy. Trước đó khoảng 01 tuần thì bị cáo T1 cũng mượn nhà của bị cáo P để cùng với bị cáo H3 sử dụng ma túy, bị cáo H3 là người cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng. Cả 02 lần, bị cáo P không sử dụng ma túy chung với các bị cáo H3 và T1 mà sử dụng ma túy riêng của bị cáo.
Xét thấy, tại Cơ quan điều tra, bị cáo Lê Thanh P khai nhận bị cáo mua nhà không số, đường số B, khu phố H, phường T, thành phố T bằng giấy tay, vì chưa có tiền nên chưa làm thủ tục sang tên, bị cáo đã ở nhà này hơn 10 năm, điều này là phù hợp với xác nhận của Công an phường T tại Bản lý lịch bị can. Bị cáo T1 khai nhận bị cáo P đồng ý nên bị cáo cùng với bị cáo H3 và tên H4 mới vào nhà sử dụng ma túy. Mặt khác, bị cáo P khai không cho bị cáo T1 và bạn vào nhà sử dụng ma túy nhưng khi về đến nhà, thấy các bị cáo T1, H3 và tên H4 đang sử dụng ma túy, bị cáo lại mặc nhiên để cho những người này sử dụng, không can ngăn. Đồng thời, bị cáo P thừa nhận thu giữ số ma túy thảo mộc khô trên bàn, trong kệ tủ bếp là của bị cáo. Như vậy, bị cáo P đã có hành vi cho mượn địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để chứa chấp việc sử dụng ma túy, do đó lời khai của bị cáo P tại phiên tòa là không có cơ sở chấp nhận.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Mai Vũ Đức H3, Nguyễn Trung T1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Thanh P phạm tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo H3 có hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy 02 lần, bị cáo T1 tìm địa điểm tổ chức sử dụng ma túy 02 lần, do đó, cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của các bị cáo H3 và T1. Bị cáo P cho các bị cáo H3, T1 mượn địa điểm 02 lần để nhiều người cùng sử dụng ma túy do đó, cần áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo P.
Tại Bản án số 218/2015/HSST ngày 26/6/2015, bị cáo H3 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/01/2019. Sau đó, đến ngày 24/12/2020, bị cáo H3 thực hiện hành vi tàng trữ 0,0584 gam Methamphetamine, chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự; tuy nhiên do Bản án số 218/2015/HSST ngày 26/6/2015 chưa được xóa án tích nên được sử dụng là dấu hiệu định tội và tại Bản án số 240/2021/HSST ngày 02/6/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, không áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó lần phạm tội này đối với bị cáo H3 là thuộc trường hợp tái phạm, không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T1 và P không có tình tiết tăng nặng. Đối với bị cáo H3: Tại Bản án số 218/2015/HSST ngày 26/6/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo H3 và T1 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo nhân thân rất xấu, thường xuyên thực hiện hành vi vi phạm luật. Bị cáo P có thái độ không thành khẩn, quanh co chối tội. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng, phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với số ma túy thu giữ có khối lượng có khối lượng 0,0767 gam Methamphetamine, là ma túy bị cáo H3 mua của người tên M và đã cùng bị cáo T1, tên H4 sử dụng tại nhà của bị cáo P. Do khối lượng còn lại chưa đủ định lượng nên chưa đủ căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo H3 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với người tên H4, giao ma túy cho bị cáo H3 và sử dụng chung ma túy với các bị cáo H3, T1, chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với người tên M, bán ma túy cho bị cáo H3, chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
[3]. Về xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong 1532/23 (7769/23), bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 bình nhựa có nắp được đục lỗ gắn ống hút nhựa và gắn một ống thuỷ tinh có đầu phễu, được dùng để sử dụng ma tuý đá. Không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo đỏ đen, bị cáo H3 khai nhận sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động Iphone màu hồng, bị cáo T1 khai nhận sử dụng điện thoại trong việc tổ chức sử dụng ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vission biển số 59X3-449.92, số khung: RLHJF5832KY067377, số máy: JF86E2131818. Qua điều tra, xe do bị cáo H3 đứng tên. Bị cáo H3 và mẹ là bà Mai Thị Kim T cùng khai nhận do bà T đứng tên hợp đồng mua trả góp của một xe khác nên không được tiếp tục đứng tên hợp đồng mua trả góp xe Honda Vission biển số 59X3-449.92, do vậy bà T nhờ bị cáo đứng tên xe giùm. Bị cáo dùng xe đi sử dụng ma túy, bà T không biết nên trả lại cho bà T.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Mai Vũ Đức H3, Nguyễn Trung T1 phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; bị cáo Lê Thanh P phạm tội "Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Mai Vũ Đức H3 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2023.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung T1 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2023.
- Áp dụng điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh P 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/7/2023.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 gói niêm phong 1532/23 (7769/23), bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
+ 01 bình nhựa có nắp được đục lỗ gắn ống hút nhựa và gắn 01 ống thuỷ tinh có đầu phễu, được dùng để sử dụng ma tuý đá.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động hiệu Vivo đỏ đen.
+ 01 điện thoại di động Iphone màu hồng.
Trả lại cho bà Mai Thị Kim T:
01 xe mô tô hiệu Honda Vission biển số 59X3-449.92, số khung: RLHJF5832KY067377, số máy: JF86E2131818.(Theo Phiếu nhập kho số NK24/165C ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức)
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 249/2024/HS-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 249/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Vũ Đức H, Nguyễn Trung T phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Lê Thanh P phạm tội chức chấp sử dụng trái phép chất ma túy
