|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI Bản án số: 249/2025/HS-PT Ngày: 04/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Duy Nhiệm;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Nam;
Ông Bùi Xuân Trọng.
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Xuân Thành - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Vỹ - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 04/4/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 49/2025/TLPT-HS ngày 16/01/2025 do có kháng cáo của bị cáo Lê Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 662/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn C, tên gọi khác: Không; sinh năm 2003, tại Thanh Hóa;
HKTT: Thôn Châu Cương, xã Hợp Thắng, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Viết H (bố dượng) và con bà Lê Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 30/11/2023 đến ngày 09/8/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, vắng mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Mạnh T, Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.
* Ngoài ra còn có: Bị cáo Lê Thành Đ và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/11/2023, Công an xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội tiếp nhận tin báo của Lê Thành Đ trình báo về việc chị Bùi Thị N sinh 1998 ở C, C, Thanh Hóa chết chưa rõ nguyên nhân tại Phòng 12A5A tòa S101 Khu đô thị V, thuộc xã Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội. Sau khi tiếp nhận thông tin, Cơ quan điều tra - Công an huyện G đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kiểm tra căn hộ. Tại thời điểm kiểm tra có Lê Thành Đ, Lê Văn C, Phùng Thúy H1 sinh năm 1999, trú tại T, xã H, huyện Y, Tuyên Quang; Hoàng Thị C1 sinh năm 1999, trú tại thôn B, xã P, huyện Q, Hà Nội và người chết xác định là Bùi Thị N sinh năm 1998, nơi cư trú: C, C, Thanh Hóa. Qua kiểm tra thu giữ:
- - 01 đĩa sứ màu trắng trong bồn rửa bát;
- - 01 thẻ visa Ngân hàng M;
- - 01 điện thoại iphone 14 Pro Max màu vàng lắp sim số 0362.096.789;
- - 01 điện thoại iphone 6s plus màu vàng bên trong lắp sim số 0564.282.476.
- - 01 điện thoại iphone 11 Promax màu vàng, bị khóa mật khẩu (là điện thoại của Bùi Thị N).
- - 01 túi đeo chéo màu đen kích thước (15x22x7) cm.
* Thu giữ của Lê Văn C:
- - 01 điện thoại iphone 15 Promax màu xanh lắp sim số 0394.319.546.
- - 01 điện thoại OPPO A5 màu đen không lắp sim số.
Ngoài ra còn thu giữ của C1 01 điện thoại Iphone màu tím, thu giữ của H1 01 điện thoại Iphone màu vàng.(BL 69, 75, 242, 285, 323, 354).
Kết luận giám định số 7987, 7988/KL-KTHS ngày 10/12/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: 01 thẻ nhựa và 01 đĩa sứ đều dính ma túy loại Ketamine (BL 94, 95).
Kết luận tử thi số 8686/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 - Công an T kết luận: (BL 159).
- - Áo, quần nạn nhân không có dấu vết nghi vấn.
- - Trên cơ thể nạn nhân không có thương tích do ngoại lực tác động.
- - Tim, phổi sung huyết mạnh có các điểm xuất huyết. Trong lòng khí – phế quản có dịch bọt hồng.
- - Kết luận giám định hóa pháp: Tìm thấy E, nồng độ là 60,0mg/100ml và các chất ma túy MDA, MDMA, Ketamine và chất chuyển hóa của K là Norketamin trong mẫu máu của nạn nhân gửi giám định. Không tìm thấy các chất độc nêu trên.
- - Kết luận giám định mô bệnh học: Phù phổi.
* Nguyên nhân chết của nạn nhân: Sốc ma túy trên người có sử dụng rượu Ethanol".
Kết quả giám định nước tiểu của Lê Thành Đ, Lê Văn C, Hoàng Thị C1 đều dương tính với Methamphetamine, MDMA và Ketamine.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thành Đ, Lê Văn C khai: Lê Thành Đ, Lê Văn C và Bùi Thị N đã nhiều lần sử dụng ma túy cùng nhau, loại ma túy sử dụng là “kẹo” “Ketamine” và “bóng cười”. Ngày 27/11/2023 Lê Thành Đ rủ Lê Văn C ra Hà Nội để sử dụng trái phép chất ma túy. Đ nói với C là sẽ thuê căn hộ tại khu đô thị V, TP Hà Nội để ở trong thời gian C ở lại Hà Nội, C đồng ý. Khoảng 13 giờ ngày 28/11/2023 C và Bùi Thị N đi từ Thanh Hóa đến căn hộ A khu đô thị V do Đ thuê của anh Phạm Nhật H2 sinh năm 1998, nơi thường trú tại thôn S, xã Đ, N, Ninh Bình. Tại đây, C chuyển khoản 2.800.000đồng tiền thuê nhà trong hai ngày cho anh H2. Lê Thành Đ cũng đến căn hộ và đem theo ma túy gồm 01 túi nilông màu trắng chứa tinh thể màu trắng là ma túy “Ke” và nửa viên ma túy “Kẹo” màu xanh để trong túi đeo chéo màu đen đến căn hộ 12A5A - S101, mục đích để sử dụng cùng C và N.
Trong quá trình ăn uống tại căn hộ, cả ba người Đ, C, N nói chuyện, rủ nhau mua ma túy tổng hợp loại “Kẹo”, “Ke” để cùng sử dụng. Tại đây, C sử dụng tài khoản số 9394319546 Ngân hàng V chuyển cho Đ 15.000.000 đồng đến tài khoản V số 9862739325 của Đ. Trong đó, 8.000.000đồng C cho Đ vay, 7.000.000đồng là tiền để Đ chi tiêu sinh hoạt ăn uống và mua ma túy cho cả nhóm sử dụng. Lúc này, Đ chưa nói cho C biết là Đ có mang theo ma túy. Đ nói với C sẽ gọi Phùng Thị H3 đến phục vụ việc sử dụng ma túy với giá 300.000 đồng đến 350.000đồng/giờ, C đồng ý. C gọi bạn là Hoàng Thị C1 đến căn hộ cùng sử dụng ma túy. Đ còn thuê 01 loa 02 đèn nháy để sử dụng ma túy và đã trả cho chủ sở hữu vào ngày 29/11/2023.
Do có sẵn ma túy nên Đ bỏ ma túy ra để cả nhóm cùng sử dụng. khi nào sử dụng hết số ma túy này thì Đ sẽ lấy số tiền của C đã chuyển khoản để mua thêm ma túy. Đ lấy trong người ra ma túy gồm ½ viên “Kẹo” màu xanh và 01 túi nylon bên trong có hơn một chỉ Ketamine để trên đĩa sứ ở phòng khách. Sau đó Bùi Thị N đã lấy ½ viên thuốc lắc sử dụng bằng hình thức uống cùng với nước lọc, rồi lấy ra tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng đưa cho Đ quấn làm tẩu hút. Quấn tẩu xong Đ lấy từ trong người ra chiếc thẻ nhựa ATM và chiếc bật lửa của mình ra, hơ nóng đĩa và xào “Ke” cho mọi người cùng sử dụng. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, H3 và C1 đến căn hộ trên, Đ kẻ 02 đường ma túy và đưa cho H3 sử dụng. Khoảng 23 giờ 00 phút sau khi ăn uống xong, Đ lấy chiếc đĩa sứ cùng số Ketamine còn lại từ phòng khách vào phòng ngủ, tại đây Đ tiếp tục bỏ Ketamine ra đĩa, dùng thẻ ATM chia thành nhiều đường thẳng trên bề mặt đĩa sau đó Đ, N, C, C1, H3 đều sử dụng bằng hình thức hít qua ống hút được cuốn bằng tờ tiền 20.000đồng. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29/11/2023, cả nhóm sử dụng ma túy xong thì lần lượt đi ra khỏi phòng ngủ, còn N thì nằm luôn lại tại phòng ngủ mà cả nhóm vừa sử dụng ma túy. Sau đó, H3 chốt ca làm với Đ là 12 tiếng, tương đương 12 ca. Đ bảo C chuyển khoản tiền cho H3 là 4.200.000 đồng rồi H3 ra về. C hiểu đây là tiền trả cho H3 việc H3 đến ngồi phục vụ và sử dụng ma túy cùng. Đến khoảng 12 giờ ngày 29/11/2023, C gọi N nhiều lần không thấy
N trả lời, tưởng N mệt nên để cho N ngủ. Đến 14 giờ, C tiếp tục gọi N dậy nhưng không thấy N phản ứng, trả lời gì. C kiểm tra thì thấy mặt N bị tái đi, trán lạnh, môi thâm, tưởng N bị cảm nên ra gọi Đ và C1 rồi lấy chăn đắp cho N, còn Đ lấy khăn ấm chườm trán cho N, nhưng thấy N không thay đổi nên gọi cấp cứu 115. Khoảng 30 phút sau trung tâm cấp cứu 115 đến căn hộ để khám, sơ cấp cứu cho N và xác định N đã tử vong.
Xét nghiệm chất ma túy đối với Đ, C, Chỉ H4, tất cả đều dương tính với ma túy Methamphetamine, MDMA, Ketamine.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 622/2024/HS-ST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn C 15 năm tù.
Ngoài ra, bản án còn xử phạt Lê Thành Đ 17 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bản án còn xử lý vật chứng, buộc nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/10/2024 bị cáo Lê Văn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt, giữ nguyên nội dung kháng cáo.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo thấy cấp sơ thẩm xét xử, quy kết bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật, không bị oan. Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 15 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Vì vậy, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C, giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh Luật sư không tranh luận gì; nhưng không đồng tình với nhận xét của Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo là người chuẩn bị địa điểm để tổ chức sử dụng chất ma túy là không đúng, vì Đ là người thuê; số tiền bị cáo chuyển cho Đ trong đó có mục đích để mua ma túy, nhưng Đ chưa mua mà đang sử dụng ma túy mà Đ mua trước đó. Đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá đúng tính chất vụ án, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa, đồng thời Luật sư xuất trình bản phôtô (không có công chứng) giấy khám bệnh, nhưng chứng cứ này không hợp pháp. Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai bị cáo đều vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt của bị cáo không làm ảnh hưởng đến việc xét xử và bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, không có kháng cáo kêu oan, hoặc tăng hình phạt đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không ra bản án bất lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Lê Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mô tả và quy kết. Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm thấy phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị cáo khác trong vụ án; phù hợp với lời khai của những người làm chứng, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đặc biệt là kết luận giám định. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 27/11/2023 Lê Thành Đ rủ Lê Văn C ra Hà Nội chơi mục đích để sử dụng trái phép chất ma túy; Lê Thành Đ đã liên hệ trước để thuê căn hộ 12A5A, tòa S Khu đô thị V, tại Đ, huyện G, Thành phố Hà Nội; khoảng 13 giờ ngày 28/11/2023 Lê Văn C và Bùi Thị N từ Thanh Hóa ra đến địa chỉ trên. Tại đây, Lê Văn C đã chuyển khoản để trả tiền phòng cho anh Phạm Nhật H2 số tiền 2.800.000đ và chuyển khoản cho Lê Thành Đ số tiền 15.000.000đ để vừa cho Đ vay, vừa để Đ chi tiêu sinh hoạt cho cả nhóm trong thời gian ở Hà Nội và tiền mua ma túy để sử dụng. Tuy nhiên, do Đ đã mang sẵn ma túy trong người nhưng không cho C biết, nếu sử dụng hết số ma túy Đ mang theo thì Đ mới dùng tiền của C để mua tiếp ma túy. Sau khi ăn, uống Lê Thành Đ đã lấy ra ½ viên ma túy “Kẹo” và hơn 01 chỉ ma túy loại Ketamine để sử dụng; Bùi Thị N đã sử dụng ½ viên “Kẹo”, còn Ketamine Đ xào lên để Đ, C, C1, H4 cùng sử dụng bằng hình thức hít qua ống hút được Đ quấn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000đ. Sau khi sử dụng ma túy Bùi Thị N không tỉnh dậy, có biểu hiện tím tái, Đ đã sơ cứu và sau đó gọi 115 để đưa N đi cấp cứu, nhưng khi 115 đến thì xác định Bùi Thị N đã tử vong trước đó do sốc ma túy. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo với tội danh nêu trên theo quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hậu quả sau khi sử dụng chất ma túy thì Bùi Thị N đã bị sốc thuốc dẫn đến tử vong. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Lê Văn C thấy: Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi phạm tội, cũng như phân hóa đúng vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Cụ thể, trong vụ án này bị cáo Lê Thành Đ với vai trò chính, bị cáo là người đã rủ rê Lê Văn C, chuẩn bị ma túy và thuê địa điểm; bị cáo Lê Văn C sau khi được Lê Thành Đ rủ rê không những không can ngăn mà còn tích cực đồng tình ủng hộ, đi từ Thanh Hóa và rủ thêm Bùi Thị N ra Hà Nội để sử dụng ma túy, bị cáo là người đã thanh toán tiền thuê căn hộ, chi tiền cho Lê Thành Đ nhằm mục đích mua ma túy. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, đại diện gia đình chị Bùi Thị N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên không đủ điều kiện để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án dưới khung hình phạt; từ đó Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 15 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt là có căn cứ, không cao. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm được chứng cứ gì mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt, nên không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt như bản án sơ thẩm là có căn cứ.
[5] Do bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C; giữ nguyên mức hình phạt của bị cáo Lê Văn C như Bản án hình sự sơ thẩm số 662/2024/HS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội; Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Văn C 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/11/2023 đến ngày 09/8/2024.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm |
Bản án số 249/2025/HS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 249/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
