Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29/5/2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Huy Viện và ông Võ Duy Bảo

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên

Ngày 29/5/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/01/2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn G, xã S, huyện N, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn: Anh Trần Ngọc C, sinh năm 1990. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn G, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Địa chỉ hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/8/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày: Chị Phan Thị H và anh Trần Ngọc C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/11/2013 tại UBND xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Sau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Kể từ năm 2018, mâu thuẫn vợ chồng càng lên đến đỉnh điểm, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chi tiêu trong gia đình, bất đồng trong việc chăm sóc con cái và cách nhìn nhận cuộc sống của hai bên không phù hợp nhau. Do điều kiện kinh tế khó khăn, tháng 03/2023, anh Trần Ngọc C sang Đài Loan làm việc, Sau đó, chị Phan Thị H và các con về nhà bố mẹ đẻ ở thôn G, xã S, huyện N, tỉnh Kon Tum. Mặc dù vợ chồng mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay chị Phan Thị H thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Trần Ngọc C

Về con chung: vợ chồng có hai người con chung là cháu Trần Thanh P, sinh ngày 19/12/2012 và cháu Trần Quang Q, sinh ngày 09/11/2024. Hiện con chung đang ở với chị Phan Thị H. Nếu ly hôn, nguyện vọng của chị Phan Thị H là được nuôi con chung và không yêu cầu anh Trần Ngọc C cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Trần Ngọc C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, công văn yêu cầu anh Trần Ngọc C có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho anh Trần Ngọc C thông qua ông Trần T và bà Hồ Thị T1 là bố mẹ đẻ của anh Trần Ngọc C; đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh Trần Ngọc C nhưng hiện tại anh Trần Ngọc C vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

Ông Trần T và bà Hồ Thị T1 trình bày: Anh Trần Ngọc C hiện đang ở Đài Loan, thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng ông, bà không biết địa chỉ cụ thể của anh Trần Ngọc C ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Ông, bà đã thông báo cho anh Trần Ngọc C biết về việc chị Phan Thị H làm đơn xin ly hôn. Thông qua ông, bà anh Trần Ngọc C trình bày, anh không đồng ý ly hôn.

Cháu Trần Thanh P trình bày: cháu là con của mẹ Phan Thị H và bố Trần Ngọc C. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu là được ở với mẹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu thân nhân của anh Trần Ngọc C cung cấp địa chỉ của anh C ở nước ngoài cho Tòa án. Thông qua lời khai của ông Trần T và bà Hồ Thị T1 có căn cứ xác định bị đơn anh Trần Ngọc C hiện đang ở nước ngoài và vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình, anh C đã biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị H nhưng anh C vẫn không gửi ý kiến về cho Tòa án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là có cơ sở.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Phan Thị H được ly hôn với anh Trần Ngọc C. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Trần Thanh P và cháu Trần Quang Q cho chị Phan Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chung do nguyên đơn không có yêu cầu nên miễn xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu. Chị Phan Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Ngọc C có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Công văn số 1612/QLXNC-Đ1 ngày 28/4/2025 của Phòng Q1 Công an tỉnh N và lời trình bày của ông Trần T và bà Hồ Thị T1 là bố mẹ đẻ của bị đơn anh Trần Ngọc C thì có căn cứ xác định hiện nay anh Trần Ngọc C đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh Trần Ngọc C cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh C cho Tòa án. Do đó, việc anh Trần Ngọc C vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Trần Ngọc C đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị Phan Thị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị H, anh Trần Ngọc C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nay, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh C. Theo trình bày của ông Trần T và bà Hồ Thị T1 thì anh C đã biết việc chị H đề nghị ly hôn nhưng cũng không có ý kiến mong muốn hòa giải đoàn tụ gửi cho Tòa án. Do đó, xét thấy, hôn nhân của chị H, anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Trần Ngọc C.

[3] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Trần Thanh P, sinh ngày 19/12/2012 và cháu Trần Quang Q, sinh ngày 09/11/2024, hiện đang ở với chị Phan Thị H. Ly hôn, chị Phan Thị H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Trần Ngọc C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay anh Trần Ngọc C đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, không rõ địa chỉ, chị Phan Thị H và các con đều sinh sống cũng nhau ở Việt Nam, cháu Trần Thanh P cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Vì vậy, để ổn định sinh hoạt và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho các cháu, cần giao cháu Trần Thanh P và cháu Trần Quang Q cho chị Phan Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Anh Trần Ngọc C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Trần Ngọc C chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[5] Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 37; 40; 147; 227; 228; 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị H được ly hôn với anh Trần Ngọc C.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Thanh P, sinh ngày 19/12/2012 và cháu Trần Quang Q, sinh ngày 09/11/2024 cho chị Phan Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Trần Ngọc C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị H chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00013818 ngày 26/12/2014 (anh Nguyễn Ngọc T2 nộp thay). Chị Phan Thị H đã nộp đủ án phí.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  6. Chị Phan Thị H có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Trần Ngọc C đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Quỳnh Vinh, TX Hoàng Mai;
  • - Lưu HSVA, Tòa GĐ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Duy Bảo Mai H1 ViệnNguyễn Thị Thu T3
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 249/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN PHAN THỊ H - TRẦN NGỌC C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger