Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 249/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 17 - 6 - 2025.

Về việc tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Đức.

Bà Ngô Thị Yêm.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Hứa Hải Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 167/2025/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh ngày 29/3/1977, căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 02/6/2022.

Nơi cư trú: Tổ E, phường P, quận L, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh ngày 13/10/1972, căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát cấp ngày 17/8/2021.

Nơi cư trú: Số nhà B, tổ A, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh ngày 27/11/2006. Sau khi kết hôn, ông bà thuê nhà chung sống với nhau tại tổ E, phường P, quận L, Hà Nội, ở riêng.

Theo bà P trình bày: Quá trình chung sống, do điều kiện công việc nên ông bà sinh sống tại nhà thuê ở L và cả ở nhà ông H tại tổ A, thị trấn Đ, huyện Đ, Hà Nội. Ông bà chung sống được khoảng 13 năm thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm khiến tình cảm rạn nứt, không thể hàn gắn dù đã được gia đình hai bên giúp đỡ hoà giải nhưng không có kết quả. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2020 cho tới nay, không quan tâm, chia sẻ, chăm sóc nhau. Bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung với ông H không có hạnh phúc mâu thuẫn không thể khắc phục nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống.

Ông Nguyễn Văn H trình bày: Quá trình chung sống giữa ông bà nảy sinh mâu thuẫn nhưng do ông bà ở riêng nên gia đình hai bên không biết để can thiệp, giúp đỡ. Ông không còn nhớ thời gian xảy ra mâu thuẫn giữa ông bà. Bà P xin ly hôn, ông đồng ý.

Về con chung: Ông bà cùng xác định có 01 con chung là Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 22/4/2008. Cháu khoẻ mạnh, bình thường và đang ở cùng bà P.

Ly hôn, bà P và ông H cùng đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác.

Về tài sản chung: Ông bà cùng xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Bà P giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu đã trình bày với Tòa án. Bà xác định: Từ khi ông bà sống ly thân cho đến nay khoảng 5 năm cháu N đều ở cùng bà và do bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông H không cấp dưỡng cho cháu nhưng bà cũng không yêu cầu. Do vậy ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N và cũng là phù hợp theo nguyện vọng của cháu, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung cho bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị P với ông Nguyễn Văn H.

Về con: Giao cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 22/4/2008 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu N thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các bên không yêu cầu nên Toà án không phải giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm không giá ngạch.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, có đơn xin vắng mặt trong quá trình xét xử và giải quyết vụ án do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, dành quyền kháng cáo cho ông theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H: Ông bà tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 27/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, xác định quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Bà P và ông H cùng có lời khai thống nhất xác định: Sau khi chung sống được một thời gian giữa ông bà đã nảy sinh mâu thuẫn và sống ly thân đã nhiều năm, không liên hệ với nhau, không quan tâm, chăm sóc nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn của ông bà là do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bà P xin ly hôn, ông H đồng ý và xin vắng mặt trong quá trình Toà án xét xử và giải quyết vụ án, không đến tham gia phiên hoà giải. Theo lời khai của ông bà cho thấy ông bà ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị P với ông Nguyễn Văn H là phù hợp.

[3] Về con chung: Ông bà có một con chung là Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 22/4/2008. Cháu khoẻ mạnh, bình thường và đang ở cùng với bà P. Ly hôn, bà P, ông H cùng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, từ khi bà P, ông H sống ly thân cho đến nay cháu N vẫn ở cùng bà P và được bà chăm sóc. Cháu N có đơn nguyện vọng xin được ở cùng với mẹ. Do vậy, khi ly hôn giao bà P trực tiếp nuôi cháu N cho đến khi cháu thành niên hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp. Ông H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà P, ông H cùng có quan điểm không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

[4] Về tài sản chung của vợ chồng: Ông bà cùng xác định không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị P phải chịu là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 203, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị P với ông Nguyễn Văn H. Bà Nguyễn Thị P được ly hôn ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn H có một con chung là Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 22/4/2008. Ly hôn, giao cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng cháu N cho đến khi cháu thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Ông Nguyễn Văn H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ, công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị P chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0072095 ngày 17/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Bà P đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bà Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - THA dân sự huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Phú Lâm, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (GCN kết hôn số 106, quyển sớ 01.2006 ngày 27/11/2006);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thu Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2025/HNGĐ - ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 249/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P và Nguyễn Văn H Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger