|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 249/2025/DS-PT
Ngày: 03/6/2025
V/v “Tranh chấp QSDĐ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Thẩm phán: Ông Trần Tuấn Vũ
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Bé T - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 5 và 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 270/2025/ST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 129/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C4
Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Văn C – Chức vụ: Tổng giám đốc, là người đại diện theo pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của ông Trương Văn C:
- - Ông Phạm Văn K – chức vụ: Trưởng phòng kỹ thuật, có mặt.
- - Ông Hoàng Văn V – chức vụ: Cán bộ pháp chế - Phòng Thanh tra bảo vệ Quân sự động viên, có mặt.
Cùng là người đại diện theo uỷ quyền (Theo Văn bản uỷ quyền lập ngày 02-5-2024).
Bị đơn: Chị Dương Minh N, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị N: Chị Nguyễn Thị T1 – là đại diện theo uỷ quyền (Hợp đồng uỷ quyền ngày 11/4/2025), có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Vũ Thị V1, sinh năm 1940; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là mẹ ruột ông Nguyễn Minh C1 (đã chết ngày 26/01/2025)
- Người kế thừa tố tụng của bà V1:
- + Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1964, địa chỉ 4D, HT23, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Trí D, sinh năm: 1969, địa chỉ: A C, khu phố A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm: 1973, địa chỉ A, khu phố F, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Minh C1 (đã chết năm 2016, có vợ là chị Dương Minh N, và các con là Nguyễn Dương Gia N1, Nguyễn Dương Gia N2, Nguyễn Dương Gia N3 và Nguyễn Dương Hùng H2 tham gia trong vụ án này).
- + Anh Nguyễn Văn C2, sinh năm: 1961 (đã chết năm 2019, có vợ Nguyễn Thị Thu T2 đã chết năm 2022, có con nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ).
- - Cháu Nguyễn Dương Gia N1, sinh năm 1998; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là con ruột của ông Nguyễn Minh C1, có mặt.
- - Cháu Nguyễn Dương Gia N2, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là con ruột của ông Nguyễn Minh C1, có mặt.
- - Cháu Nguyễn Dương Gia N3, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là con ruột của ông Nguyễn Minh C1, vắng mặt.
- - Cháu Nguyễn Dương Hùng H2, sinh năm 2009; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, là con ruột của ông Nguyễn Minh C1.
- Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Dương H3 H2: Bà Dương Minh N, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ G, ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- - Anh Lương Đức Thọ K1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ A, ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt do Tòa án không triệu tập.
- - Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Quốc C3 – chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
- Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Quốc C3: Ông Nguyễn Hòa B – chức vụ: Phó Chủ tịch, là người đại diện theo uỷ quyền, văn bản uỷ quyền số 1694/QĐ-UBND ngày 13 tháng 5 năm 2025, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh: Bà Mai Thị Kim T3 – chức vụ: Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn – chị Dương Minh N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 31 tháng 8 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Năm 1985, Công ty C4 (nay là Công ty Cổ phần C4) được tạm giao diện tích đất tự nhiên 20.926 ha theo QĐ 128/QĐ-UB ngày 21/11/1985 của UBND tỉnh T để khai hoang trồng cao su. Đến năm 1988, UBND tỉnh có Quyết định số 170/QĐ-UB ngày 28-12-1988 điều chỉnh diện tích đã giao cho Công ty C4 (gọi tắt là Công ty) từ 20.926 ha xuống còn 10.000 ha. Trong quá trình khai hoang, Công ty có dùng máy ủi gom những gốc cây, gốc le vào khu vực bờ gom diện tích khoảng 02 ha.
Năm 1988, ông Nguyễn Minh D1 (cha chồng của chị Dương Minh N) được đề bạt làm Giám đốc Nông trường cao su Suối Ngô trực thuộc công ty tự ý vào canh tác cây ngắn ngày trên phần đất bờ gom này để cải thiện đời sống, đến năm 1996 thì trồng cây xà cừ. Ông D1 có gặp Lãnh đạo Công ty xin mượn đất để canh tác, do ông D1 là Giám đốc nông trường và phần đất này Công ty chưa có nhu cầu sử dụng nên để cho gia đình ông D1 canh tác.
Năm 1997, Công ty được UBND tỉnh T cấp GCNQSD đất diện tích 2.114,6 ha tại ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh và ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh trong đó diện tích đất bờ gom nói trên thuộc thửa số 37, tờ bản đồ số 15, diện tích 10.500m² và 01 phần diện tích 10.000m² thửa số 59, tờ bản đồ số 10.
Vào năm 2009, Công ty phát hiện diện tích đất bờ gom đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đất cho ông D1, bà V1 vào năm 2006. Năm 2012, ông D1, bà V1 tặng cho anh C1 và chị N.
Năm 2014, UBND tỉnh T ban hành Quyết định số 2376/QĐ-UB ngày 17-10-2014 về việc điều chỉnh Điều 1 của Quyết định số 2209/QĐ-UBND ngày 20-10-2009 của UBND tỉnh T, trong đó tại khu vực ấp C, xã S, huyện T với diện tích 1.795,56 ha. Vị trí đất tranh chấp thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 15 với diện tích 20.773,9m².
Ngày 20-01-2016, Công ty được cấp đổi lại GCNQSD với diện tích 5.418.566,1m², thuộc thửa số 45, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đến ngày 13-4-2016, Nhà nước thu hồi diện tích 174.678,2 m², còn lại diện tích 5.243.887,90 m² theo Quyết định số 7562/QĐ-UB ngày 28-3-2016 của UBND tỉnh T. Vị trí đất tranh chấp thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 15 với diện tích 20773,9m².
Ngày 16-5-2022, UBND huyện T ban hành Quyết định số 1637/QĐ-UBND về việc thu hồi Giấy CNQSDĐ của bị đơn. Sau đó, bị đơn không đồng ý nên khiếu nại. Ngày 13-12-2022, UBND tỉnh T có Quyết định số 2541/UBND về việc huỷ Quyết định số 1637/QĐ-UBND của UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh để giải quyết lại thì Công ty đã rút đơn, không yêu cầu UBND huyện T giải quyết theo thủ tục hành chính mà khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Tân Châu.
Nay theo đơn khởi kiện ngày 31-8-2023 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 15-8-2024, Công ty yêu cầu chị N và hàng thừa kế của anh C1 trả diện tích đất theo hiện trạng thực tế đo đạc là 20.910,7m², toạ lạc ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Hướng Đông giáp đường đất; Hướng Tây giáp lô 081-82 thuộc đất của Công ty CP C4; Hướng Nam giáp đất ông P và bà H4; Hướng Bắc giáp lô N82 thuộc đất của Công ty CP C4.
Bị đơn chị Dương Minh N và người đại diện hợp pháp của chị Dương Minh N, bà Vũ Thị V1, cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2 trình bày:
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp do chồng chị là anh Nguyễn Minh C1 khai phá khoảng năm 1984-1985, diện tích khoảng 21.000m². Sau khi khai phá xong, anh C1 và gia đình chồng chị có trồng đậu, trồng mè, đến năm 1996 trồng cây xà cừ, đến khoảng năm 2011 thì tiếp tục trồng keo. Năm 1988, cha chồng chị là ông Nguyễn Văn D2 được bổ nhiệm làm Giám đốc nông trường cao su Suối Ngô. Năm 1995, chị kết hôn với ông C1. Năm 2006, cha mẹ chị được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đối với phần đất trên, đến năm 2012 thì tặng cho vợ chồng bà.
Ngày 27-8-2012, vợ chồng chị được UBND huyện T cấp GCNQSD đất diện tích 21.528m², thửa số 01, tờ bản đồ 31. Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1988 thì không có cá nhân tổ chức nào tranh chấp. Đến năm 2015 thì Công ty phát sinh tranh chấp cho đến nay. Chị không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty. Trường hợp, Tòa án buộc trả đất thì chị yêu cầu phía công ty trả lại giá trị quyền sử dụng đất, tài sản trên đất theo kết quả định giá, công khai phá số tiền 100.000.000 đồng.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Vũ Thị V1: Chị Nguyễn Thị Kim H, anh Nguyễn Trí D, chị Nguyễn Thị Kim H1 thống nhất với lời trình bày của chị N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lương Đức Thọ K1 trình bày:
Khoảng tháng 10-2023, chị N có cho anh mượn diện tích đất đang tranh chấp để trồng mì vụ năm 2024. Anh đã thu hoạch xong nên không có ý kiến gì trong vụ án trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh trình bày:
Qua kiểm tra rà soát quy trình, hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn D2 và bà Vũ Thị V1, diện tích 21.528m², thửa đất số 01, tờ bản đồ số 31, vị trí đất tại xã S là chưa đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 135 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, hồ sơ không có Đơn xin cấp GCNQSD đất; hồ sơ công bố công khai danh sách các trường hợp đủ điều kiện và không đủ điều kiện cấp GCNQSD đất tại trụ sở UBND xã trong thời hạn 15 ngày; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất; Tờ trình của Phòng Tài nguyên và Môi trường trình UBND huyện ký cấp GCNQSD đất.
Ngoài ra, qua đối chiếu sơ đồ khu đất thuộc ấp A, 2, 3 xã S kèm theo Quyết định số 204/QĐ-CT ngày 06-7-2005 của Chủ tịch UBND tỉnh T về việc thu hồi 629,9 ha đất của Công ty C4 và Quyết định số 205/QĐ-CT ngày 06-7-2005 của Chủ tịch UBND tỉnh T về việc giao 629,9ha cho UBND huyện T: Diện tích đất đang tranh chấp cấp cho vợ chồng ông D2, bà V1 không thuộc Quyết định số 204/QĐ-CT ngày 06-7-2005 của Chủ tịch UBND tỉnh T về việc thu hồi 629,9 ha đất của Công ty C4 và Quyết định số 205/QĐ-CT ngày 06-7-2005 của Chủ tịch UBND tỉnh T về việc giao 629,9ha cho UBND huyện T giao cho UBND xã S quản lý. Vị trí cấp trùng vào diện tích đất Công ty CP C4 được UBND tỉnh T cấp GCNQSD đất.
Quy trình, hồ sơ cấp GCNQSD đất cho vợ chồng ông Nguyễn Minh C1, bà Dương Minh N do vợ chồng ông Nguyễn Văn D2, bà Vũ Thị V1 tặng cho quyền sử dụng đất vào ngày 08-6-2012. Do hồ sơ cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn D2 và bà Vũ Thị V1, diện tích 21.528m², thửa đất số 01, tờ bản đồ số 31, vị trí đất tại xã S là chưa đảm bảo quy định dẫn đến quy trình, hồ sơ cấp GCNQSD đất cho vợ chồng ông Nguyễn Minh C1, bà Dương Minh N là chưa đảm bảo theo quy định.
Do vậy, UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh kiến nghị Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xem xét quyết định theo quy định.
* Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 270/2025/DS-ST ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Áp dụng Điều 166 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 31, 131, 137, Luật đất đai 2024; Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần C4 đối với chị Dương Minh N và bà Vũ Thị V1, cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2, cháu Nguyễn Dương Gia N3, cháu Nguyễn Dương Hùng H2 (hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Minh C1) về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ quyết định của Bản án này xử lý điều chỉnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ghi nhận anh Lương Đức Thọ K1 đã thu hoạch mì vụ năm 2024 nên không đặt ra giải quyết.
- Công ty Cổ phần C4 có trách nhiệm trả cho chị Dương Minh N và bà Vũ Thị V1, cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2, cháu Nguyễn Dương Gia N3, cháu Nguyễn Dương Hùng H2 (hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Minh C1) giá trị công sức giữ gìn, tôn tạo đất số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Buộc chị Dương Minh N và bà Vũ Thị V1, cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2, cháu Nguyễn Dương Gia N3, cháu Nguyễn Dương Hùng H2 (hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Minh C1) có trách nhiệm giao trả cho Công ty Cổ phần C4 phần đất diện tích qua đo đạc thực tế là 20.910,7 m², đất thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 15 (to thửa mới bản đồ chính quy 2013), đất có tứ cận:
Hướng Đông giáp đường đất;
Hướng Tây giáp lô 081-82 thuộc đất của Công ty cổ phần C4;
Hướng Nam giáp đất ông P và bà H4;
Hướng Bắc giáp lô N82 thuộc đất của Công ty cổ phần C4.
Đất tọa lạc tại: Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Kèm theo Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất do Công ty TNHH MTV V2 đo đạc ngày 09-4-2024 và có ký xác nhận ngày 10-4-2024.
Công ty Cổ phần C4 có trách nhiệm trả cho chị Dương Minh N giá trị tài sản trên đất số tiền 115.747.000 (một trăm mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 23/01/2025, bị đơn – chị Dương Minh N có đơn kháng cáo không đồng ý trả cho Công ty Cổ phần C4 phần đất qua đo đạc thực tế 20.910,7m² thuộc thửa 17, tờ bản đồ số 15 do vợ chồng chị đứng tên GCNQSDĐ.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
- + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- + Về nội dung: Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên không có cở chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy :
[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị V1, chết ngày 26/01/2025, căn cứ vào lời trình bày của bị đơn và bản tự khai của các con bà V1, xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà V1 gồm: anh Nguyễn Văn C2 (chết ngày 02/01/2016 nhưng không cung cấp được thông tin địa chỉ những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh C2), chị Nguyễn Thị Kim H, anh Nguyễn Minh C1 (chết ngày 02/01/2016, có người thừa kế là chị N và các con gồm là Nguyễn Dương Gia N1, Nguyễn Dương Gia N2, Nguyễn Dương Gia N3 và Nguyễn Dương Hùng H2 trong vụ án này), anh Nguyễn Trí D và chị Nguyễn Thị Kim H1.
[2] Về nội dung vụ án:
Phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 20.190,7m² thuộc thửa 17, tờ bản đồ số 15 toạ lạc tại ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất trên vì phần đất này UBND tỉnh T đã tạm giao cho Công ty quản lý từ năm 1985 theo Quyết định số 128 ngày 21/11/1985, Công ty tiến hành khai hoang đất từ năm 1986, đến năm 1988, UBND tỉnh có Quyết định số 170 giao đất cho Công ty. Cùng năm 1988, ông D2 là chuyên gia kỹ thuật cao su của T4 tại Campuchia về nước làm Giám đốc Nông trường cao su Suối Ngô, ông D2 có gặp lãnh đạo Công ty xin mượn phần đất tranh chấp để canh tác (nhưng không có giấy tờ mượn) và đưa gia đình về sinh sống, canh tác trên phần đất này khoảng năm 1990 cho đến nay. Năm 1997, Công ty được cấp GCNQSDĐ và đến năm 2016 được cấp đổi GCNQSDĐ. Trong quá trình sử dụng đất, UBND tỉnh T đã nhiều lần thu hồi điều chỉnh diện tích đất đã giao cho Công ty C4 nhưng không thu hồi, điều chỉnh gì đối với diện tích đất tranh chấp trên, phía Công ty cũng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với phần đất này.
Còn phía bị đơn không đồng ý vì xác định phần đất này do gia đình chồng của bị đơn khai phá từ năm 1984, trực tiếp quản lý sử dụng ổn định, giữa phần đất tranh chấp với đất của Công ty có ranh rấp rõ ràng, khi địa phương thông báo việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất phía bị đơn thực hiện kê khai và có khai rõ, nguồn gốc đất khai phá và được cấp GCNQSDĐ vào năm 2006 (ông D2, bà V1 đứng tên) và sau đó là cấp GCNQSDĐ cho bà N, ông C1 vào năm 2012 trên cơ sở tặng cho hợp pháp. Ngoài ra, Công ty không trực tiếp quản lý đất và việc UBND tỉnh giao đất cho Công ty theo Quyết định 170 chỉ giới hạn đối với phần đất đất nào có trồng cao su, việc cấp GCNQSDĐ đối với Công ty cũng không đảm bảo quy định pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:
Phía bị đơn trình bày từ năm 1984 anh C1 là chồng chị N có khai phá, cải tạo đất nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh trong khi tờ khai để cấp GCNQSDĐ của bà V1, ông D2 thể hiện nguồn gốc khai phá năm 1988 (bút lục 162); cùng thời gian ông Nguyễn Minh D1 là cha chồng chị N là Giám đốc Nông trường cao su Suối Ngô trực thuộc Công ty.
Nhận thấy, lời trình bày của các bên đương sự không thống nhất về nguồn gốc, quá trình khai phá, cải tạo đất, tuy nhiên có cở sở xác định gia đình ông D1 trực tiếp sử dụng phần đất này từ trước năm 1990 cho đến nay, trong quá trình quản lý sử dụng cho đến khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ năm 2006, phía gia đình bị đơn không tiến hành kê khai đăng ký đất hay thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất tranh chấp. Trong khi đó từ năm 1985 UBND tỉnh T đã có Quyết định tạm giao diện tích đất tự nhiên 20.926 ha cho Công ty để khai hoang trồng cây cao su và ngày 28/12/1988, UBND tỉnh T tiếp tục có Quyết định 170 về việc điều chỉnh diện tích 20.926 ha xuống còn 10.000 ha. Đến ngày 20/6/1997, UBND tỉnh T cấp GCNQSDĐ cho Công ty theo Quyết định số 191/QĐ-UB với tổng diện tích 21.146.000m² tại huyện T, trong đó có 6.758.400m² tại xã S, thuộc các tờ bản đồ số 10, 11, 12, 14, 15, 17, tổng 58 thửa.
Ngày 06/7/2005, Chủ tịch UBND tỉnh T có Quyết định số 204/QĐ-CT về việc thu hồi diện tích 1.066,1194 ha đất trong tổng diện tích 8439,0505 ha đã giao Công ty C4 để trồng cao su. Cùng ngày, Chủ tịch UBND tỉnh T có Quyết định số 205/QĐ-CT về việc giao 1.066,1194 ha đất trên cho UBND huyện T để bố trí cho nhân dân sử dụng, trong đó không bao gồm phần đất đang tranh chấp hiện nay. Sau đó, UBND huyện T thực hiện việc cấp GCNQSDĐ cho người dân theo Quyết định trên, ông D1, bà V1 cũng làm thủ tục để cấp GCNQSDĐ nêu rõ nguồn gốc đất khai phá. Ngày 20/9/2006 ông Nguyễn Văn D2, bà Vũ Thị V1 (cha mẹ chồng bà N) được UBND tỉnh T cấp GCN QSDĐ diện tích 21.528,0m² thửa số 01, tờ bản đồ số 31 tại xã S, huyện T.
Ngày 20/01/2016, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp đổi GCNQSDĐ cho Công ty diện tích 541.8566,1 ha gồm 45 thửa, tờ bản đồ số 15, đất tọa lạc ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, trong đó có bao gồm phần đất tranh chấp hiện nay thuộc thửa số 17, diện tích 20.773,9m².
Ngày 08/6/2012, ông Nguyễn Minh C1, bà Dương Minh N được ông D2, bà V1 tặng cho QSDĐ nêu trên và được UBND huyện T cấp GCN QSDĐ ngày 27/8/2012.
Theo Kết luận số 1452/KL-TTCP ngày 21/8/2020 của Thanh tra chính phủ yêu cầu UBND tỉnh T chỉ đạo các Sở ban ngành có liên quan xử lý dứt điểm đối với diện tích bị lấn chiếm theo phương án sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật (bút lục 471). Ngày 15/9/2022, Thanh tra tỉnh Tây Ninh có Báo cáo số 207 thể hiện nội dung đề nghị cty cao su T5 rà soát và hoàn thiện thủ tục khởi kiện tranh chấp QSDĐ đối với các trường hợp đã cấp trùng GCN QSDĐ trên đất công ty (bút lục 495).
Tại Công văn số 1828 ngày 21/6/2024 của UBND tỉnh T và Công văn số 3424 ngày 10/6/2024 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T xác định:
- + Thửa số 17, tờ bản đồ số 15 diện tích 20.774,0m² thuộc GCNQSDĐ do Sở TNMT cấp đổi ngày 20/01/2016 cho Công ty C4, áp theo hệ thống bản đồ 299 thì thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 15 và MPT số 59, tờ bản đồ số 10 tại xã S đã được UBND tỉnh cấp lần đầu cho Công ty C4 ngày 25/6/1997 diện tích 21.146.000,0m².
- + Thửa đất số 01, tờ bản đồ số 31, diện tích 21.528,0m² thuộc GCNQSDĐ cấp ngày 27/8/2012 cho ông C1 bà N, đối chiếu sang bản đồ chính quy năm 2013 thuộc thửa số 17, tờ bản đồ số 15, diện tích 20.774,0m² thuộc xã S. Phần diện tích trên đã cấp GCNQSDĐ cho cty cao su T5 đã được UBND tỉnh cấp lần đầu ngày 25/6/1997 diện tích 21.146.000,0m².
Mặt khác, tại Công văn số 4894/UBND ngày 28/11/2024 và Công văn số 3628/UBND ngày 17/9/2024 của UBND huyện T xác định quy trình cấp GCN QSDĐ cho ông D2, bà V1 diện tích 21.528m² thửa số 01, tờ bản đồ số 31, vị trí tại S là chưa đảm bảo trình tự, thủ tục theo quy định nên dẫn đến quy trình, hồ sơ cấp GCN QSDĐ cho ông C1 bà N được ông D2 bà V1 tặng cho cũng chưa đảm bảo theo quy định.
Qua những phân tích trên, có căn cứ xác định diện tích đất tranh chấp 20.910,7m² thửa số 17, tờ bản đồ số 15 tại ấp C, xã S mà chị N và hàng thừa kế thứ nhất của anh C1 đang sử dụng cấp trùng vào diện tích đất mà UBND tỉnh đã cấp giấy đất cho cty cao su T5 từ năm 1997 cho đến nay.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 10.787.000 đồng.
Chị Dương Minh N và cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2, cháu Nguyễn Dương Gia N3 (hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Minh C1), mỗi người phải chịu 50.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận; bà Vũ Thị V1 là người cao tuổi được miễn, nên người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà cũng được miễn và cháu Nguyễn Dương Hùng H2 là người dưới 18 tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Chị N phải chịu 300.000 đồng.
[5] Về chi phí tố tụng:
Ghi nhận Công ty Cổ phần C4 tự nguyện chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định, tại chỗ và định giá tài sản số tiền 26.000.000 đồng và đã chi phí xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị Dương Minh N.
Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 270/2024/DS-ST ngày 27/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 166 Bộ Luật Dân sự năm 2015; Điều 26, 31, 131, 137 Luật Đất đai 2024; Điều 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần C4 đối với chị Dương Minh N và người thừa kế của anh Nguyễn Minh C1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ quyết định của Bản án này xử lý điều chỉnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho đương sự theo quy định của pháp luật.
- Ghi nhận anh Lương Đức Thọ K1 đã thu hoạch mì vụ năm 2024 nên không đặt ra giải quyết.
- Công ty Cổ phần C4 có trách nhiệm trả cho chị Dương Minh N, cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2, cháu Nguyễn Dương Gia N3, cháu Nguyễn Dương Hùng H2 (hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Minh C1) và người thừa kế của bà Vũ Thị V1 giá trị công sức giữ gìn, tôn tạo đất số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
- Về án phí, chi phí định giá:
Buộc chị Dương Minh N, cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2, cháu Nguyễn Dương Gia N3, cháu Nguyễn Dương Hùng H2 (hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Minh C1) và người thừa kế của bà Vũ Thị V1 có trách nhiệm giao trả cho Công ty Cổ phần C4 phần đất diện tích qua đo đạc thực tế là 20.910,7 m², đất thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 15 (tờ thửa mới bản đồ chính quy 2013), đất có tứ cận:
Hướng Đông giáp đường đất;
Hướng Tây giáp lô 081-82 thuộc đất của Công ty cổ phần C4;
Hướng Nam giáp đất ông P và bà H4;
Hướng Bắc giáp lô N82 thuộc đất của Công ty cổ phần C4.
Đất tọa lạc tại: Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Công ty Cổ phần C4 có trách nhiệm trả cho chị Dương Minh N giá trị tài sản trên đất số tiền 115.747.000 (một trăm mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án không chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5.1. Chi phí định giá:
Ghi nhận Công ty Cổ phần C4 tự nguyện chịu chi phí đo đạc, xem xét thẩm định, tại chỗ và định giá tài sản số tiền 26.000.000 (hai mươi sáu triệu) đồng và đã chi phí xong.
5.2. Về án phí:
5.2.1 Về án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty Cổ phần C4 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 10.787.000 (mười triệu bảy trăm tám mươi bảy nghìn) đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm Công ty Cổ phần C4 đã nộp tổng cộng 600.000 đồng (sáu trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0008602 ngày 06-10-2023 và Biên lai thu số 0006546 ngày 22-8-2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Công ty Cổ phần C4 tiếp tục phải nộp số tiền án phí chênh lệch 10.187.000 (mười triệu một trăm tám mươi bảy nghìn) đồng.
Chị Dương Minh N và cháu Nguyễn Dương Gia N1, cháu Nguyễn Dương Gia N2, cháu Nguyễn Dương Gia N3 (hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Minh C1), mỗi người phải chịu 50.000 (năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận;
5.2.2 Về án phí dân sự phúc thẩm:
Chị Dương Minh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0003051 ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thu Trang |
Bản án số 249/2025/DS-PT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 249/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn
