Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 249/2024/HS-ST

Ngày: 28/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Công Huấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Giáo
  2. Bà Phạm Thị Thanh Mẫn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Huy Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trí Đức - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 28/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 255/2024/HSST ngày 29/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 2373/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Văn L; giới tính: nam; sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: B đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú trước khi bị bắt: Phòng số 4 nhà số A đường Số D, tổ G, KP4, phường P, quận T; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn P (chết) và Đỗ Thị L1 (sinh năm 1974); chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bắt, tạm giữ: 27/7/2023;

Tạm giam: 05/8/2023;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2.Họ và tên: Nguyễn Thị Bích T; giới tính: nữ; sinh ngày 02/7/2001 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký thường trú: Thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú trước khi bị bắt: Phòng số 4 nhà số A đường số D, tổ G, KP4, phường P, quận T; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Tam H (sinh năm 1967) và Nguyễn Kim B (sinh năm 1977); chưa có chồng con;

Tiền án: Ngày 13/6/2022, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xong án phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm (bản án số 74/2022/HS-ST); ngày 28/01/2022, chấp hành (bl.203-206);

Tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 04/01/2019, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bản án số 01/2019/HSST); ngày 30/8/2019, chấp hành xong hình phạt tù và án phí hình sự sơ thẩm (bl.198-202, 214);

Bắt, tạm giữ: 27/7/2023;

Tạm giam: 05/8/2023;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3.Họ và tên: Hồ Hoài N; giới tính: nam; tên gọi khác: không; sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 66/7 đường H, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú trước khi bị bắt: Phòng số 4 nhà số D, đường T, Phường A, quận T; Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: không; con ông Hồ Văn S (chết) và Liêu Thị Lệ H1 (sinh năm 1964); sống chung với bà Hoàng Vũ Quỳnh N1 (sinh năm 1995), có 01 con chung sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: không;

Tạm giam: 05/8/2023;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4.Họ và tên: Võ Hoàng V; giới tính: nam; sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 17 đường V, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: B Tổ A, đường Đ, Khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: không; con ông Võ P1 (chết) và Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1954); vợ đã ly hôn tên Nguyễn Thị Thanh T1, có 01 con sinh năm 2013;

Tiền án, tiền sự: không;

Bắt quả tang: 25/7/2023;

Tạm giữ: 26/7/2023;

Tạm giam: 04/8/2023;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Huỳnh Đức T2, luật sư Công ty L2, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Trần Thị Huy C, Công ty L3, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Ngô Tấn V1; sinh năm 1992; nơi cư trú: A V, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt;
  2. Bà Hoàng Vũ Quỳnh N1; sinh năm 1995; nơi cư trú: 8A đường C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: D T, Phường A, T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 25/7/2023, tại khu vực bến phà B thuộc địa phận Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về Kinh tế và Ma túy, phối hợp với Tổ tuần tra 363 Công an huyện C và Công an xã B, huyện C, phát hiện bắt quả tang Võ Hoàng V điều khiển xe mô tô Honda Winner mang biển số 59P2-495.02 lưu thông trên đường và có cất giấu 0,7859g loại Methamphetamine. Tổ công tác đã đưa V về trụ sở Công an xã B, huyện C lập biên bản bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng là ma túy như đã nêu (bl.293, 294).

V khai rằng V mua ma túy của Hồ Hoài N vào ngày 19/7/2023 và mua ma túy của Nguyễn Văn L vào ngày 25/7/2023, với mục đích bán lại cho người khác.

Vào lúc 13 giờ 35 phút ngày 26/7/2023, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Hoài N tại Phòng S, nhà Số D đường T, Phường A, quận T, thu giữ được tại đây: 3,8836g ma túy loại Methamphetamine và 0,0257g ma túy loại Ketamine (bl.249, 250).

Vào lúc 14 giờ 15 phút ngày 26/7/2023, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L tại Phòng S, nhà Số A, đường Số D, Tổ G, Khu phố D, phường P, quận T, thu giữ được tại đây: 35,1209g ma túy loại Methamphetamine. Vào thời điểm khám xét, có bị cáo Nguyễn Thị Bích T, người sống chung với L và giúp L bán ma túy; có Phạm Thị Thu T3 đến đưa cho L 500.000₫ mua ma túy để sử dụng nhưng L chưa giao ma túy cho T3 (bl.142, 143).

Ngày 27/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với N, L và T (bl.46, 51, 56).

Khối lượng ma túy, chất dạng ma túy thu giữ của các bị cáo như đã nêu ở phần trên được xác định theo Kết luận giám định số 8165/KL-KTHS ngày 31/7/2023, Kết luận giám định số 8176/KL-KTHS và Kết luận giám định số 8177/KL-KTHS cùng ngày 01/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh (bl.96, 98, 100).

Kết quả điều tra xác định được như sau:

Tháng 02/2023, N quen P2 (không rõ lai lịch). Vào ngày 15/7/2023 và ngày 23/7/2023, N đã 02 lần mua ma túy của P2, mỗi lần mua khoảng 2,5g Methamphetamine với giá 1.400.000đ; mục đích để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Vào ngày 19/7/2023, N đã 02 lần bán ma túy cho V, mỗi lần bán khoảng 0,5g Methamphetamine, với giá 400.000đ; vào ngày 22/7/2023, H nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Song Bích N2 nhưng không rõ số lần cụ thể, mỗi lần bán từ 0,1g đến 0,2g Methamphetamine, với giá từ 200.000đ đến 300.000đ; vào ngày 21/7/2023 và ngày 23/7/2023, H nhiều lần bán ma túy cho Lê Nhật T4 nhưng không nhớ số lần cụ thể, mỗi lần bán 0,1g Methamphetamine với giá 200.000đ.

Đối với 0,0257g Ketamine thu giữ tại nơi ở của N là ma túy của Q (không rõ lai lịch) cho N vào khoảng đầu tháng 04/2023, H cất giữ để bán cho người khác. N không xác định đã thu lợi bao nhiêu tiền qua việc mua bán ma túy (bl.265 - 286, 461 - 467, 472 - 478).

Vào đầu tháng 7/2023, bị cáo L và bị cáo T sống chung với nhau tại phòng Số D, nhà Số A, đường Số D, Tổ G, Khu phố D, phường P, quận T. L sử dụng tài khoản Facebook có tên là “Danh Nguyên”, liên lạc với người sử dụng tài khoản Facebook “Han Han” có tên là H3 nhưng không rõ lai lịch, để mua ma túy của H3. L đã nhiều lần mua ma túy của H3, mỗi lần mua 50g Methamphetamine, giá 15.000.000đ; giao dịch tại khu vực cầu T, Quận A; lần cuối cùng giao dịch vào ngày 20/7/2023. Sau khi mua ma túy, L và T cất giấu tại nơi ở, L phân chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho người khác. Trong số những người mua ma túy của L có Võ Hoàng V và Phạm Thị Thu T3.

L bán ma túy cho V nhiều lần, mỗi lần bán từ 500.000đ đến 1.000.000đ, L trực tiếp gặp V để giao ma túy và nhận tiền. Ngày 21/7/2023 và ngày 23/7/2023, do L không ở nhà nên T lấy mỗi lần 0,6g Methamphetamine giao cho V, nhận của V 500.000₫ và sau đó đưa lại cho L.

L bán ma túy cho T3 nhiều lần, mỗi lần bán với giá từ 200.000đ đến 300.000₫ (không xác định được khối lượng). Ngày 26/7/2023, T3 đưa cho L 500.000₫ để mua ma túy loại Methamphetamine nhưng L chưa kịp giao ma túy cho T3 thì bị phát hiện như trên. T3 mua ma túy của L với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Trong quá trình mua bán ma túy, L tự khai đã thu lợi bất chính khoảng 25.000.000₫ (bl.166 - 188, 219 - 239, 449 - 456).

V đã 02 lần mua ma túy loại Methamphetamine của N, mỗi lần 400.000đ; V nhiều lần mua ma túy loại Methamphetamine của L, mỗi lần mua từ 500.000₫ đến 1.000.000đ. V mua ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác. Ngày 25/7/2023, có 01 nam thanh niên không rõ lai lịch sử dụng số điện thoại 0865.125.xxx (Vũ lưu tên trong danh bạ điện thoại của V là “Nha Be") gọi cho V đặt mua 950.000₫ ma túy loại Methamphetamine và hẹn giao dịch tại khu vực phà B, huyện C. Do khối lượng M mà V đã mua của N vào ngày 19/7/2023 không còn đủ để bán nên V mua thêm 0,6g Methamphetamine của L giá 500.000đ, rồi mang ma túy đến khu vực phà B để bán thì bị phát hiện bắt quả tang như trên. V không xác định được số tiền thu lợi bất chính trong quá trình mua bán ma túy (bl.351 - 381).

Đối với H3 (người bán ma túy cho L), P2 và Q (những người bán ma túy cho N): Do không xác định được lai lịch nên không có cơ sở để xem xét xử lý.

Đối với T3, T4 và N2 là những người mua ma túy của L, T và N để sử dụng: Do không thu giữ được vật chứng là ma túy nên không có căn cứ xử lý về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với các số điện thoại có liên quan đến việc mua bán ma túy: Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu các Cơ quan viễn thông cung cấp thông tin chủ thuê bao nhưng chưa có kết quả nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Ngoài vật chứng là ma túy thu giữ của các bị cáo đã được nêu ở phần trên, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của các bị cáo và những người có liên quan một số đồ vật như sau:

Thu giữ của Nguyễn Văn L:

  • -01 điện thoại di động Iphone màu đen, số Imei trên khe sim là 353055118117925;
  • -01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số Imei 1 là 357743107662540, số Imei 2 là 357745100568749, không có sim;
  • -01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số Imei 1 là 355817095465389, số Imei 2 là 355817098465386 (không có pin và không có sim);
  • -800.000đ (tám trăm nghìn đồng);
  • -01 cân điện tử màu trắng; 02 cái kéo bằng kim loại; 01 bình thủy tinh tự chế có gắn ống nhựa màu trắng; 01 bình gas màu vàng, nắp đỏ; 07 bật lửa gas; 07 ống nhựa màu trắng chưa qua sử dụng; 03 ống thủy tinh, chưa qua sử dụng; 03 ống thủy tinh đã qua sử dụng; 02 ống nhựa màu trắng sọc đỏ chưa qua sử dụng; 02 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt vát một đầu; 01 đoạn ống nhựa màu trắng sọc xanh được cắt vát một đầu và hàn kín một đầu; 01 đoạn ống nhựa màu xanh được cắt vát một đầu và nhiều gói nylon bên trong không chứa gì.

Thu giữ của Nguyễn Thị Bích T:

  • -01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đỏ, số Imei trên khe sim 356801111675790;
  • -01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, Model A1687 FCC ID:BCG-E2944A IC:579C-E2944A.

Thu giữ của Hồ Hoài N:

  • -01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen;
  • -01 điện thoại di động hiệu VIVO (không có sim);
  • -01 cân điện tử màu đen; 01 bình gas mini màu trắng; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET; 01 bình thủy tinh tự chế; 04 ống thủy tinh, chưa qua sử dụng; 03 ống thủy đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế nắp màu xanh, trên nắp có khoét 02 lỗ gắn 01 ống thủy tinh; 01 đoạn ống nhựa màu đen được cắt vát một đầu, hàng kín một đầu bên trong không chứa gì; 01 ống nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu vàng đã qua sử dụng; 07 ống nhựa màu trắng chưa qua sử dụng; 03 cái kéo bằng kim loại; 03 bật lửa gas; 08 đoạn ống nhựa màu trắng được cắt vát một đầu, hàn kín một đầu bên trong không chứa gì; 18 gói nylon màu trắng xanh có chữ hand made và nhiều gói nylon bên trong không chứa gì.

Thu giữ của bà Hoàng Vũ Quỳnh N1 (người sống chung với N):

  • -01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen;
  • -01 Điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh có ghi chữ DESIGNED FOR A-SERIES.

Thu giữ của Võ Hoàng V:

  • -01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei 351564/09/043058/8;
  • -01 chai nhựa tự chế, có gắn nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa; 04 bật lửa gas; 08 ống nhựa chưa qua sử dụng và 05 ống thủy tinh, chưa qua sử dụng;
  • -280.000₫ (hai trăm tám mươi nghìn đồng);
  • -01 xe mô tô hiệu Honda Winner biển số 59P2-49502. Kết quả điều tra xác định số khung, số máy không thay đổi, do ông Ngô Tấn V1 đứng tên chủ sở hữu, bán lại cho Võ Hoàng V, nhưng chưa làm thủ tục sang tên. V sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Tòa án xem xét, xử lý (bl.117-120).

Tại bản Cáo trạng số 195/CT-VKSTPHCM-P1 ngày 22/3/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo như sau:

  • -Truy tố Nguyễn Văn L và Nguyễn Thị Bích T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
  • -Truy tố Hồ Hoài N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
  • -Truy tố Võ Hoàng V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội như sau:

Căn cứ lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo L và T “phạm tội 02 lần trở lên”, bị cáo T còn phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” đây là tình tiết tăng nặng khi lượng hình.

Căn cứ tính chất, mức độ vi phạm, đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; phạt bổ sung 15.000.000₫.

  2. Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T từ 16 đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; phạt bổ sung 15.000.000đ.

  3. Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,

    Xử phạt bị cáo Hồ Hoài N từ 8 đến 9 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; phạt bổ sung 10.000.000đ.

  4. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự,

    Xử phạt bị cáo Võ Hoàng V từ 7 đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; phạt bổ sung 5.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy các gói ma túy thu giữ của các bị cáo; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước các điện thoại thu giữ của bị cáo L, T, N và V; đối với số tiền 800.000₫ và số tiền 280.000₫ cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án; các đồ vật là công cụ mà các bị cáo dùng để sử dụng ma túy và các đồ vật không có giá trị, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy; trả lại cho bà N1 02 điện thoại thu giữ của bà N1.

Luật sư T2 bào chữa cho bị cáo L như sau:

Bị cáo L thành khẩn khai báo; bị xét xử lần đầu; phần lớn ma túy đã bị thu giữ nên tác hại gây ra cho xã hội là có hạn chế. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo L được hưởng mức án nhẹ nhất trong khung hình phạt.

Bị cáo L đồng với ý kiến bào chữa của luật sư T2, không có ý kiến bào chữa bổ sung.

Luật sư C bào chữa cho bị cáo T như sau: Bị cáo chỉ là đồng phạm giúp sức cho L trong 02 lần bán ma túy. Tuy nhiên, Viện kiểm sát lại buộc T phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ khối lượng mà L mua bán là chưa hợp lý. Mặt khác, T là người sống phụ thuộc vào L. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các nội dung đã nêu và có mức án phù hợp đối với T. Bị cáo T là đồng phạm giúp sức cho bị cáo L, chứ không trực tiếp và khởi xướng thực hiện hành vi mua bán ma túy nên việc đại diện Viện kiểm sát đánh giá hành vi của bị cáo T tương đương với bị cáo L để đề nghị mức hình phạt của hai bị cáo ngang nhau là không hợp lý. Ngoài ra, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo T mức án thấp nhất trong khung hình phạt.

Bị cáo T đồng ý với ý kiến bào chữa của luật sư C và bào chữa bổ sung như sau: Cha mẹ bị cáo đã ly hôn khi bị cáo còn nhỏ, mẹ bị cáo đã già. Bị cáo giúp L bán ma túy 02 lần nhưng không có hưởng lợi, tiền bán ma túy bị cáo giao lại cho L. Bị cáo ở trong trại giam nên không có khả năng để chấp hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo N và bị cáo V không có ý kiến bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ để các bị cáo sớm được trở về đoàn tụ với gia đình.

Kiểm sát viên tranh luận như sau: Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà luật sư T2 nêu ra để xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. T sống chung như vợ chồng với bị cáo L, T biết L mua bán ma túy nhưng vẫn giúp L mua bán ma túy nên T phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng ma túy mà L mua bán. Mặc dù T chỉ là người giúp sức nhưng T có 01 tiền án chưa được xóa, phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”. Do vậy, mức án mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với T bằng với mức án đề nghị áp dụng đối với L là phù hợp. Viện kiểm sát giữ nguyên mức án đề nghị đối với T và L.

Luật sư C tranh luận như sau: Khối lượng chất ma túy bị bắt quả tang và khi khám xét tại nhà của bị cáo T đều là của bị cáo L cất giấu. Bị cáo T chỉ có vai trò giúp sức không đáng kể cho bị cáo L, T không tham gia vào các giao dịch mua bán ma túy của bị cáo L và cũng không thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy. Do đó, Luật sư giữ nguyên quan điểm bào chữa và không tranh luận bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, luật sư bào chữa đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2].Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả giám định, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, có căn cứ để xác định:

Vì động cơ vụ lợi, các bị cáo L, T, N và V đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

N mua ma túy của một người không rõ lai lịch tên P2 với mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác nhằm hưởng lợi. Vào ngày 19/7/2023, N đã 02 lần bán ma túy cho V, mỗi lần bán khoảng 0,5g Methamphetamine, với giá 400.000đ. Vào ngày 22/7/2023, N nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Song Bích N2 nhưng không rõ số lần cụ thể, mỗi lần bán khoảng từ 0,1g đến 0,2g Methamphetamine. Vào ngày 21/7/2023 và ngày 23/7/2023, H nhiều lần bán ma túy cho Lê Nhật T4 nhưng không nhớ số lần cụ thể, mỗi lần bán khoảng 0,1g Methamphetamine. Khi khám xét nơi ở của N, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 0,0257g Ketamine. N khai số ma túy vừa nêu là của Q (không rõ lai lịch) cho N vào khoảng đầu tháng 04/2023, H cất giữ để bán cho người khác.

L nhiều lần mua ma túy của một người tên H3 (không rõ lai lịch), mang về nơi ở để cất giấu để bán lại cho người khác. Trong số những người mua ma túy của L có V và Phạm Thị Thu T3.

T là người sống chung với L và giúp L mua bán ma túy.

V đã 02 lần mua ma túy của N và 01 lần mua ma túy của L để bán lại cho người khác để kiếm lời.

Vào ngày 25/7/2023, khi V đang điều khiển xe máy lưu thông trên đường mang ma túy đi bán cho người khác thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ của V 0,7859g ma túy loại Methamphetamine

Vào ngày 26/7/2023, khi khám xét chỗ ở của N, Cơ quan điều tra thu giữ được tại đây: 3,8836g ma túy loại Methamphetamine và 0,0257g ma túy loại Ketamine (bl.249, 250).

Vào ngày 26/7/2023, khi khám xét chỗ ở của L và T, Cơ quan điều tra thu giữ được 35,1209g ma túy loại Methamphetamine.

[3]. Ma túy (nói chung) là chất gây nghiện độc hại, việc sử dụng ma túy không chỉ gây thiệt hại về tài sản của gia đình, xã hội mà còn gây tổn hại đến chính sức khỏe, thậm chí là tính mạng của người sử dụng. Người thường xuyên sử dụng ma túy sẽ bị rối loạn nhân cách, không làm chủ được hành vi, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Chính vì vậy, pháp luật của Nhà nước ta nghiêm cấm việc mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là sai trái, sẽ bị nghiêm trị nhưng vẫn cố ý vi phạm. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây nguy hại đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia; xâm phạm hoạt động của Nhà nước trong việc quản lý và kiểm soát các chất ma túy.

[4]. Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với các quy định của pháp luật, có đủ căn cứ kết luận bị cáo L và bị cáo T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo V đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[5].Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt cần áp dụng đối với các bị cáo:

Trong vụ án này, L và T là đồng phạm của nhau. Trong đó, L giữ vai trò chính; T là người giúp sức. Hành vi của L và T có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn. Hành của V và N có tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn.

L và T “phạm tội 02 lần trở lên” nên cần áp điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Riêng đối với bị cáo T, vào ngày 13/6/2022, T bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự (tội ít nghiêm trọng). Trong khi án tích vừa nêu chưa được xóa thì T lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, lần phạm tội này của T được xác định thuộc trường hợp “tái phạm” nên cần áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với T. Ngoài ra, ngày 26/9/2018, T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên ngày 04/01/2019, T bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trong lần phạm tội vừa nêu, T chưa đủ 18 tuổi. Mặc dù án này đương nhiên được xóa nhưng tình tiết này cũng cần được lưu ý khi lượng hình.

N “phạm tội 02 lần trở lên” và “phạm tội đối với 02 người trở lên” nhưng các tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với N.

V “phạm tội 02 lần trở lên” nhưng tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với V.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đặc điểm nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo; đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung, phạt một khoản tiền nhất định đối với L, N và V. Riêng đối với T, bị cáo phạm tội nhưng không được hưởng lợi trực tiếp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Về các biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, xử lý như sau:

Đối với các điện thoại di động, cân điện tử thu giữ của các bị cáo: Là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 1.080.000₫ (bao gồm 800.000đ thu giữ của L và 280.000₫ thu giữ của V): Là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe máy Honda Winner biển số 59P2-49502: Xe do ông Ngô Tấn V1 đứng tên. Tuy nhiên, ông V1 cho biết đã bán xe cho bị cáo Võ Hoàng V. Bị cáo V đã sử dụng xe làm phương tiện phạm tội. Do vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước (bl.117-120).

Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của bà Hoàng Vũ Quỳnh N1: Không liên quan đến tội phạm nên cần giao trả cho bà N1.

Đối với tiền thu lợi bất chính: N và V khai không xác định được số tiền thu lợi bất chính; L thì khai rằng thu lợi bất chính được khoảng 25.000.000đ nhưng cũng không có căn cứ để kiểm chứng. Do vậy, không có cơ sở để xác định chính xác số tiền các bị cáo thu lợi bất chính để truy thu.

Đối với những vật còn lại: Là vật sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật liên quan đến tội phạm nhưng không còn sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 3 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2023; phạt bổ sung 15.000.000₫ (mười lăm triệu đồng).

  2. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g và h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2023.

  3. Căn cứ điểm b và c khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Hồ Hoài N 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 27/7/2023; phạt bổ sung 10.000.000đ (mười triệu đồng).

  4. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Võ Hoàng V 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023; phạt bổ sung 5.000.000₫ (năm triệu đồng).

  5. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

    Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

    • -01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone màu đen, số IMEI trên khe sim là 353055118117925 (...7925, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, số IMEI 1: 357743107662540, số Imei 2: 357745100568749 (...8749, bể mà hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, không có pin, số Imei 1: 355817095465389, số Imei 2: 355817098465386 (...5386, không có pin, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) cân điện tử màu trắng;
    • -01 (một) cân điện tử màu đen;
    • -01 (một) Điện thoại di động hiệu S1 màu đen (không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) Điện thoại di động hiệu VIVO (cũ, trầy xước, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) điện thoại di động hiệu kiểu dáng Iphone màu đỏ, số IMEI trên khe sim 356801111675790 (...5790, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, Model A1687 FCC ID:BCG-E2944A IC:579C-E2944A (...2367, cũ, bể nát, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei 351564/09/043058/8 (...058/8, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) xe hai bánh gắn máy nhãn hiệu HONDA; số loại: WINNER; dung tích xi lanh: 150; biển số 59P2-495.02; số khung: RLHKC2603GY208629; số máy: KC26E1022435 (không gương, dàn nhựa bể, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra);
    • -1.080.000₫ (một triệu không trăm tám mươi nghìn đồng).

    Trả lại cho bà Hoàng Vũ Quỳnh N1:

    • -01 (một) Điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh đen (trầy xước, bể màn hình, không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra màn hình, tình trạng máy móc bên trong);
    • -01 (một) Điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh có ghi chữ DESIGNED FOR A-SERIES (không kiểm tra đời máy, I do không có nguồn điện, không kiểm tra tình trạng máy móc bên trong).

    Tịch thu tiêu hủy:

    • -01 (một) gói niêm bên ngoài ghi vụ số 1631/23(8165), có chữ ký của GĐV Võ La Bảo Y và ĐTV Bành Trọng Hữu, bên trong là mẫu còn lại sau giám định.
    • -01 (một) gói niêm bên ngoài ghi vụ số 8176/(1638/23), có chữ ký của GĐV Phạm Huỳnh Minh T5 và ĐTV Bành Trọng Hữu, bên trong là mẫu còn lại sau giám định.
    • -01 (một) gói niêm bên ngoài ghi vụ số 8177/(1639/23), có chữ ký của GĐV Phạm Huỳnh Minh T5 và ĐTV Bành Trọng Hữu, bên trong là mẫu còn lại sau giám định.
    • -05 (năm) cái kéo bằng kim loại; 14 (mười bốn) quẹt gas, 01 (một) bình gas mini màu trắng; 01 (một) bình gas mini màu vàng nắp đỏ; 01 (một) chai nhựa tự chế, có nắp màu đen, trên nắp có gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa;
    • -01 (một) bình nhựa tự chế có nắp màu xanh, trên lắp có khoét 02 lỗ gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa màu trắng đã qua sử dụng; 01 (một) bình thủy tinh tự chế có gắn ống nhựa màu trắng; 01 (một) bình thủy tinh tự chế; 18 (mười tám) gói nylon màu trắng xanh có chữ hand made; 12 (mười hai) ống thủy tinh chưa qua sử dụng; 06 (sáu) ống thủy tinh đã qua sử dụng; 08 (tám) đoạn ống nhựa màu trắng được cắt vác một đầu, hàng kính một đầu bên trong không chứa gì; 01 (một) đoạn ống nhựa màu đen được cắt vác một đầu, hàng kính một đầu, bên trong không chứa gì; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng sọc xanh được cắt vác một đầu và hàng kính một đầu, bên trong không chứa gì; 01 (một) đoạn ống nhựa màu xanh được cắt vác một đầu; 08 (tám) ống nhựa chưa qua sử dụng; 14 (mười bốn) ống nhựa màu trắng chưa qua sử dụng; 02 (hai) ống nhựa màu trắng sọc đỏ chưa qua sử dụng; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng được cắt vác một đầu; 01 (một) vỏ bao thuốc lá JET; 01 (một) thùng nhựa màu vàng đã qua sử dụng; nhiều gói nylon bên trong không chứa gì.

Các vật chứng đã nêu hiện đang được lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo biên bản bàn giao tang tài vật số NK2024/289 ngày 17/4/2024 được lập giữa Cục thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh và PC04 Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng số tiền 1.080.000đ hiện đang được gửi giữ trong tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh mở tại Kho bạc Nhà nước Quận A, theo Giấy nộp tiền ngày 20/10/2023 của Ngân hàng TMCP C1 (bl.112).

6.Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

7.Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Cục THADS TP.HCM; (1)
  • - Sở tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (4)
  • - Trại giam; (4)
  • - Người bào chữa; (2)
  • - Đương sự; (2)
  • - THAHS TP.HCM; (1)
  • - Phòng PC53 - CA TP. HCM; (1)
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (26) (4)

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Công Huấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 249/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 249/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN VĂN LÀNH VÀ ĐỒNG PHẠM, PHẠM TỘI "MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger