TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 249/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25/7/2024 Về ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Phương Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng, bà Nguyễn Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 304/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/6/2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 329/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng Q- Luật sư của Công ty L. Địa chỉ: Số C L, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1988. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan.
Người được anh Q1 ủy quyền giao, nhận văn bản: Chị Dương Thị S, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Những người tham gia tố tụng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Quỳnh N trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Q1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 05/3/2014. Vợ chồng chung sống cùng nhau đến năm 2017 thì anh Q1 đi lao động tại Đài Loan. Do vợ chồng mỗi người ở một nơi nên không thể chăm sóc, giúp đỡ nhau; không thể cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tình trạng này kéo dài nhiều năm nhưng không có biện pháp khắc phục dẫn tới tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên chị khởi kiện xin ly hôn anh Q1.
Chị và anh Q1 có 01 con chung là Nguyễn Trần Hà M- sinh ngày 23/7/2015. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M cho tới khi thành niên. Chị và anh Q1 tự thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản gửi cho Tòa án, bị đơn là anh Nguyễn Văn Q1 trình bày thống nhất với chị N về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung của vợ chồng. Năm 2017, anh đi lao động tại Đài Loan và hiện vẫn đang ở tại Đài Loan, còn chị N vẫn ở tại Hải Dương. Do vợ chồng không sống cùng nhau, ít có sự quan tâm dành cho nhau làm cho tình cảm xa cách. Đến cuối năm 2022, hai bên thường xảy ra cãi vã do bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề. Dù đã tìm nhiều biện pháp khắc phục và được hai bên gia đình động viên nhưng đều không có kết quả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn chị N, nhất trí để chị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Trần Hà M cho tới khi thành niên và không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Anh ủy quyền cho chị Dương Thị S thay anh thực hiện việc giao, nhận văn bản với Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, chị S đã thông báo cho anh Q1 biết và anh Q1 vẫn giữ nguyên nội dung, quan điểm đã trình bày.
Tại bản luận cứ gửi cho Tòa án, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị N được ly hôn anh Q1 và giao con chung Nguyễn Trần Hà M cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã tuân theo và chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N ly hôn anh Nguyễn Văn Q1. Giao con chung là Nguyễn Trần Hà M- sinh ngày 23/7/2015 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Buộc chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
2
- Về tố tụng:
- [1.1] Anh Nguyễn Văn Q1 đang sinh sống tại Đài Loan. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh của anh Q1 ở thôn C, xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- [1.2] Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và đều có văn bản đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- [1.3] Văn bản anh Q1 gửi cho Tòa án được chứng thực hợp pháp nên có cơ sở xác định nội dung văn bản thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của anh Q1.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N và anh Nguyễn Văn Q1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Hải Dương ngày 05/3/2014. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Trình bày của các đương sự phù hợp với nhau nên có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị N và anh Q1 không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống và do vợ chồng phải sống xa nhau nhiều năm, không có điều kiện để quan tâm, chăm sóc nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Cả hai bên đều xác định không còn tình cảm với nhau. Vì vậy xác định hôn nhân giữa chị N với anh Q1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N xin ly hôn, anh Q1 nhất trí ly hôn nhưng các đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa nên cần xử cho chị N được ly hôn anh Q1 theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị N và anh Q1 có một con chung là Nguyễn Trần Hà M- sinh ngày 23/7/2015. Hiện anh Q1 không có mặt ở Việt Nam và cháu M có nguyện vọng được ở cùng chị N. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị N về việc giao cháu M cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên. Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
3
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Quỳnh N và anh Nguyễn Văn Q1.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Nguyễn Trần Hà M- sinh ngày 23/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Quỳnh N phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0000774 ngày 05/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị N đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thị Phương Thúy |
4
Bản án số 249/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 249/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N xin ly hôn anh Q
