Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 248/2024/DS-PT

Ngày: 21-06-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Bà Hoàng Thị Hải Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (MB);

Địa chỉ trụ sở: Số A, đường L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T1 – Phó giám đốc M chi nhánh T3. Theo văn bản ủy quyền số 2470.2/UQ-MBAMC ngày 13/4/2023.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đinh Thanh T2 - Chuyên viên xử lý nợ Công ty M chi nhánh T3. Theo văn bản ủy quyền số 1170/UQ-MBAMC-TNB ngày 12/9/2023 (Xin vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Bà Nguyễn Như N, sinh năm: 1984 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Chổ ở hiện nay: Ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.

2. Ông Dương Trùng D, sinh năm: 1989 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm: 1954 (Có mặt).

2. Bà Lê Ngọc Đ1, sinh năm: 1957 (Có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Như N là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông T2 trình bày: Ngày 30/6/2022, Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là MB) và ông Dương Trùng D, bà Nguyễn Như N đã cùng ký kết Hợp Đồng Tín dụng số 26562.22.751.19265383.TD cùng các khế ước nhận nợ. Số tiền vay là 1.000.000.000 đồng. Mục đích vay kinh doanh gạo, tấm, cám. Lãi suất 8,2% năm. Thời hạn vay 11 tháng. Đồng thời cấp thẻ tín dụng hạn mức đến 275.000.000 đồng cho ông D, bà N.

Tài sản bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của ông Dương Trùng D, bà Nguyễn Như N (Bên vay theo Hợp đồng tín dụng) gồm:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 21, tờ bản đồ số 20, diện tích 276,6m², tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, theo GCNQSDĐ số Y 588312, số vào số cấp GCN: 2437 QSDĐ TT-TB do UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 13/11/2003 cho ông Nguyễn Tấn Đ, Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Phòng C tỉnh Cà Mau, số công chứng 03742 quyển số 06/2022 IPCC-SCC/HĐGD ngày 30/6/2022 và được đăng ký Giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng lại đất đai huyện T, tỉnh Cà Mau theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông D, bà N đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ nên khoản vay bị quá hạn từ ngày 25/02/2023, cụ thể: Tính đến ngày 13/6/2023 ông D, bà N đã trả được số tiền 50.369.682 đồng. Số dư nợ của ông D, bà N tạm tính đến ngày 13/06/2023 tại Ngân hàng M1 vốn vay là 1.000.000.000 đồng, lãi 40.492.849 đồng và nợ thẻ tín dụng 229.600.000 đồng. Tổng cộng nợ phải thanh toán là 1.270.092.849 đồng.

Ngân hàng đã gửi nhiều thông báo, văn bản yêu cầu ông D, bà N trả nợ và yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ, bà Lê Ngọc Đ1 có nghĩa vụ bàn giao tài sản bảo đảm cho Ngân hàng MB xử lý theo đúng quy định tất cả đều không thực hiện, có biểu hiện kéo dài thời gian và cố tình lẫn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích của Ngân hàng M1 nên khởi kiện ông D, bà N yêu cầu giải quyết các vấn đề sau:

Buộc ông Dương Trùng D và bà Nguyễn Như N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tạm tính đến hết ngày 13/06/2023 tổng số tiền 1.270.092.849 đồng (Trong đó: Vốn vay 1.000.000.000 đồng, lãi 40.492.849 đồng nợ lãi và nợ thẻ tín dụng 229.600.000 đồng). Đồng thời, tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, theo Hợp đồng tín dụng số 26562.22.751.19265383.TD ngày 30/6/2022 và thẻ tín dụng kể từ ngày 14/6/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông D, bà N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp, bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng M1, các tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp, gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 21, tờ bản đồ số 20, diện tích 276,6m², tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, theo GCNQSDĐ số Y 588312, số vào số cấp GCN: 2437 QSDĐ TT-TB do UBND huyện T, tỉnh Cà Mau cấp ngày 13/11/2003 cho ông Nguyễn Tấn Đ. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Phòng C tỉnh Cà Mau, số công chứng 03742 quyển số 06/2022 TRICC- SCC/HĐGD ngày 30/6/2022 và được đăng ký Giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Cà Mau theo đúng quy định của pháp luật. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông D, bà N đối với Ngân hàng TMCP Q. Nếu số tiền thu được từ bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Dương Trùng D và bà Nguyễn Như N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng MB.

Bị đơn ông D trình bày tại biên bản ghi lời khai ngày 08/12/2023: Ngày 30/6/2022, vợ chồng ông Dương Trùng D, bà Nguyễn Như N đã cùng ký kết Hợp đồng Tín dụng số 26562.22.751.19265383.TD và các khế ước nhận nợ với Ngân hàng TMCP Q (MB) số tiền vay là 1.000.000.000 đồng và thẻ tín dụng hạn mức đến 275.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay vợ chồng có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 21 tờ bản đồ số 20 diện tích 276,6m² tại thị trấn T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y588312 do ông Nguyễn Tấn Đ đứng tên.

Ông D xác định tạm tính đến ngày 13/6/2023, vợ chồng ông còn nợ và đồng ý thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 1.270.092.849 đồng (Trong đó: Vốn vay 1.000.000.000 đồng, lãi 40.492.849 đồng và nợ thẻ tín dụng 229.600.000 đồng).

Trường hợp vợ chồng ông, bà không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông, bà đồng ý giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi thu hồi nợ.

Bị đơn bà N trình bày: Tại phiên tòa, bà N xác định ngày 30/6/2022, vợ chồng là ông Dương Trùng D, bà Nguyễn Như N đã cùng ký kết Hợp đồng Tín dụng số 26562.22.751.19265383.TD và các khế ước nhận nợ với Ngân hàng TMCP Q (MB) số tiền vay là 1.000.000.000 đồng và thẻ tín dụng hạn mức đến 275.000.000 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay vợ chồng có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 21 tờ bản đồ số 20 diện tích 276,6m² tại thị trấn T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y588312 do ông Nguyễn Tấn Đ đứng tên.

Bà N xác định tạm tính đến ngày 13/6/2023, vợ chồng bà còn nợ và đồng ý thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 1.270.092.849 đồng (Trong đó: Vốn vay 1.000.000.000 đồng, lãi 40.492.849 đồng và nợ thẻ tín dụng 229.600.000 đồng).

Trường hợp vợ chồng bà không thanh toán nợ cho Ngân hàng thì bà đồng ý giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi thu hồi nợ.

Ông Đ, bà Đ1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông, bà có ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số Y 588312 diện tích 276,6m² tọa lạc tại T, huyện T đứng tên ông Nguyễn Tấn Đ, theo hợp đồng thế chấp được công chứng số 03742 cấp ngày 30/6/2022 tại phòng C tỉnh Cà Mau cho ông D, bà N vay tiền tại Ngân hàng TMCP Q (MB).

Hiện tại số nợ mà ông D, bà N còn nợ Ngân hàng MB tạm tính đến ngày 13/6/2023 số tiền 1.270.092.849 đồng. Trường hợp, ông D, bà N không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng thì ông Đ đồng ý để cho Ngân hàng yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản đã ký thế chấp đảm bảo khoảng vay của ông D, bà N để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Riêng bà Đ1 không đồng ý để cho Ngân hàng yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản đã ký thế chấp đảm bảo khoảng vay của ông D, bà N để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (MB) đối với ông Dương Trùng D, bà Nguyễn Như N.

Buộc ông D, bà N có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q (MB) tạm tính đến hết ngày 13/06/2023 tổng số tiền 1.270.092.849 đồng (Trong đó: Vốn vay 1.000.000.000 đồng, lãi 40.492.849 đồng nợ lãi và nợ thẻ tín dụng 229.600.000 đồng). Đồng thời, tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, theo Hợp đồng tín dụng số 26562.22.751.19265383.TD ngày 30/6/2022 và thẻ tín dụng kể từ ngày 14/6/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất do chậm thi hành, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 08 tháng 3 năm 2024 bị đơn là bà Nguyễn Như N kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng chỉ chấp nhận trả khoản vay có thế chấp là vốn vay 1.000.000.000 đồng và lãi theo quy định, không đồng ý trả khoản vay cấp thẻ tín dụng 229.600.000 đồng vì đây là khoản vay tín chấp nên Ngân hàng phải kiện thành vụ án khác để giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn là bà Nguyễn Như N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Như N, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Tại phiên tòa phúc thẩm bà N vẫn giữ nguyên kháng cáo yêu cầu tách thành 02 vụ kiện khác nhau để giải quyết với lý do: Hợp đồng thế chấp chỉ bảo đảm cho khoản vay 1.000.000.000 đồng nên nếu giải quyết chung vụ án thì xử lý luôn tài sản thế chấp để thanh toán cho khoản vay cấp thẻ tín dụng 229.600.000 đồng là không đúng. Nội dung kháng cáo của bị đơn là bà N là không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ:

Theo đơn khởi kiện Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả 02 khoản nợ thế chấp 1.000.000.000 đồng và khoản vay cấp thẻ tín dụng 229.600.000 đồng đối với ông D và bà Ngọc 1 cùng 01 quan hệ pháp luật và cùng một chủ thể người cho vay và người vay nên Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết trong cùng một án là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, không có căn cứ tách vụ án để giải quyết thành vụ kiện khác như yêu cầu kháng cáo của bà N.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà N cho rằng khoản vay cấp thẻ tín dụng 229.600.000 đồng là khoản vay tín chấp nên hợp đồng thế chấp tài sản không đảm bảo cho khoản vay tín chấp, nhưng án sơ thẩm đã tuyên buộc dùng tài sản tại hợp đồng thế chấp để xử lý luôn cho khoản vay cấp hạn mức thẻ tín dụng là không đúng.

Thấy rằng: Tại Điều 2 khoản 2.2 của Hợp đồng thế chấp ngày 30/6/2022 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Nguyễn Tấn Đ và bà Lê Ngọc Đ1 có nội dung: “Nghĩa vụ được bảo đảm theo hợp đồng này là toàn bộ nghĩa vụ tài chính hiện tại và trong tương lai của bên có nghĩa vụ được bảo đảm bao gồm nghĩa vụ thanh toán, trả nợ gốc, nợ lãi, các chi phí, phí, các khoản tiền phạt, bồi thường thiệt hại..các nghĩa vụ tài chính khác nếu có theo thỏa thuận cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, phát hành thư tín dụng, cấp thẻ tín dụng...”.

Hợp đồng thế chấp trên ngoài bảo đảm cho hợp đồng vay ngày 30/6/2022 với giá trị khoản cấp tín dụng là 1.000.000.000 đồng thì tại hợp đồng thế chấp này còn được bảo đảm cho các hợp đồng cấp tín dụng được giao kết từ ngày 01/1/2014 đến ngày 31/12/2065. Như vậy tại Hợp đồng thế chấp đã thể hiện khoản vay cấp tín dụng là khoản vay có thế chấp không phải là khoản vay tín chấp như bà N, ông Đ, bà Đ1 trình bày tại phiên tòa.

Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Như N cho rằng đây là khoản vay tín chấp không dùng tài sản thế chấp tại hợp đồng để đảm bảo cho khoản vay này.

[2] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Như N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn nên bị đơn bà Nguyễn Như N phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Như N.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 26 ngày 02 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (MB) đối với bị đơn ông Dương Trùng D, bà Nguyễn Như N.

2. Buộc ông D, bà N có trách nhiệm thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q (MB) tạm tính đến hết ngày 13/06/2023 tổng số tiền 1.270.092.849 đồng (Trong đó: Vốn vay 1.000.000.000 đồng, lãi 40.492.849 đồng nợ lãi và nợ thẻ tín dụng 229.600.000 đồng). Đồng thời, tiếp tục thanh toán phần nợ lãi, theo Hợp đồng tín dụng số 26562.22.751.19265383.TD ngày 30/6/2022 và thẻ tín dụng kể từ ngày 14/6/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày Ngân hàng TMCP Q (MB) có đơn yêu cầu thi hành án, ông D, bà N có nghĩa vụ thi hành xong khoản tiền nêu trên. Trường hợp ông D, bà N không thanh toán dứt khoản nợ trên thì Ngân hàng M1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mãi tài sản đã thế chấp, bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của ông D, bà N theo hợp đồng thế chấp được công chứng tại Phòng C tỉnh Cà Mau, số công chúng 03742 quyển số 06/2022 IPCC-SCC/HĐGD ngày 30/6/2022 và được đăng ký Giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng lại đất đai huyện T, tỉnh Cà Mau để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP Q (MB) theo đúng quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

  • - Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông D, bà N phải chịu số tiền là 50.102.000 đồng (chưa nộp).
  • Ngân hàng TMCP Q (MB) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 03/10/2023, Ngân hàng TMCP Q (MB) đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 25.051.000 đồng theo biên lai số 0003850 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
  • - Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Như N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000 đồng. Ngày 08 tháng 3 năm 2024 bà N đã dự nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0016034 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu đối trừ.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2024/DS-PT ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 248/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KHông chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger