Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 248/2024/HSST

Ngày: 09 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thanh Thảo;
  2. Ông Nguyễn Đình Thức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 217/2024/HSST ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 281/2024/QĐXXST-HS ngày 26/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn Vĩnh T; sinh năm 1997, tại: TP .; Hộ khẩu thường trú: khu vực L, phường T, quận T, TP .; chổ ở hiện nay: F1/2P tổ A, ấp F, xã V, huyện B, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1968; vợ, con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: không.

    - Bị bắt tạm giam: 01/04/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.

  2. Thạch Thanh H; sinh năm 2002, tại: Vĩnh Long; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; chổ ở hiện nay: như trên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thanh T1, sinh năm 1971 và bà Thạch Thị H1, sinh năm 1975; vợ, con: chưa có.

    Tiền án, tiền sự: không.

    - Bị bắt tạm giam: 01/04/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C (Cơ sở T7) Công an T8 và có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại.

  1. Chị Lê Mỹ C, sinh năm 1995; trú tại: 3 đường số A, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  2. Chị Lê Hoàng Kim C1, sinh năm 2003; trú tại: 2 đường B, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  3. Chị Dương Thị Bích L, sinh năm 1972; trú tại: tổ E, ấp A, xã V, huyện B, TP . (Vắng mặt).
  4. Chị Mai Ngọc H2, sinh năm 1992; trú tại: A Tas6y L, khu phố G, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).
  5. Ông Trần Văn T2, sinh năm 1979; trú tại: E ấp N, xã B, huyện H, TP . (Vắng mặt).
  6. Anh Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1984; trú tại: ấp B, xã T, huyện B, TP . (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Duy P, sinh năm 1984; trú tại: 1 T, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
  2. Chị Thạch Thị T4, sinh năm 1998; trú tại: F ấp F, xã V, huyện B, TP . (Vắng mặt).
  3. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1989; trú tại: D ấp D, đường V, huyện B, TP . (Vắng mặt).
  4. Chị Từ Bích T5, sinh năm 1974; trú tại: G Đ, phường A, quận A, TP . (Vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1982; trú tại: À ấp A, xã T, huyện B, TP . (Vắng mặt).
  6. Chị Châu Thị Ngọc L1, sinh năm 2004; trú tại: thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Vắng mặt).
  7. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1948; trú tại: KV L, phường T, quận T, TP . (Vắng mặt).
  8. Bà Lê Thị L2, sinh nă 1984; trú tại: thôn T, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Vắng mặt).
  9. Ông Hoàng Liên K, sinh năm: 1972; trú tại: A ấp B, xã B, huyện H, TP (Vắng mặt).
  10. Chị Lê Mỹ O, sinh năm 1997; trú tại: 3 đường số A, phường B, quận B, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 17/3/2024, Nguyễn Văn Vĩnh T điều khiển xe máy hiệu Honda Future, biển số 50Y1-852.45 đến Trung tâm thương mại A, số C T, phường S, quận T và gửi xe tại bãi xe ngoài sân tầng trệt ở hàng cột D6 rồi đi vào trong siêu thị. Khi đi ngang qua hàng cột D5, T thấy xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 50N1-313.27 của chị Lê Mỹ C còn cắm chìa khóa trên ổ khóa công tắc xe, không người trông coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Lúc này, T tiến đến bấm nút mở cốp xe thì thấy thẻ giữ xe ở trong cốp dưới yên xe nên cầm thẻ giữ xe rồi lấy trộm xe biển số 50N1-313.27 chạy ra cổng số 5, đưa thẻ cho nhân viên kiểm soát và được nhân viên cho ra ngoài. Sau đó, T điều khiển xe gắn máy vừa trộm được đến gửi tại quán B3 số D T, phường S, quận T. Đến ngày 26/3/2024 anh Nguyễn Văn L3 là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T9 đã đến Công an phường

Vụ thứ hai:

Do thấy việc trộm cắp xe gắn máy trên dễ dàng nên T tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt xe gắn máy tại trung tâm thương mại A. Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 17/3/2024, T đi bộ đến trung tâm thương mại A và lấy chiếc xe gắn máy Future, biển số 50Y1-852.45 của T đã gửi trước đó rồi điều khiển xe di chuyển đến khu vực bãi xe BC. Tại hàng cột C1 bãi xe khu vực BC, T phát hiện xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số 76H1-510.56 của chị Châu Thị Ngọc L1, chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa công tắc xe, không người trông coi. Lúc này, T tiến lại gần rồi tìm thẻ giữ xe trên xe và trong cốp nhưng không thấy nên T lấy chiếc áo khoác màu xám treo trên xe mặc lên người rồi đẩy xe gắn máy biển số 76H1-510.56 đến dựng tại bãi xe khu vực C. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi đứng ở bên ngoài quan sát thấy chốt kiểm soát thẻ giữ xe ra vào số 4 sơ hở có thể phóng nhanh ra ngoài để tẩu thoát nên T đi bộ từ bên ngoài vòng ngược vào trong bãi xe rồi bước qua rào chắn bằng kim lọai để vào bãi xe BC, lúc này T tiến đến xe gắn máy biển số 76H1-510.56 dùng chìa khóa cắm sẵn trên xe nổ máy và đi đến cổng số 4. Lúc này, chị Lê Hoàng Kim C1 (nhân viên kiểm soát thẻ giữ xe) hỏi thẻ giữ xe thì T nói đã làm mất thẻ xe, chị C1 nghi ngờ nên đã giữ T lại nhưng do phía trước không có thanh chắn ngang nên T đã nhanh chóng tăng ga xe tẩu thoát qua chốt kiểm soát thẻ xe rồi điều khiển xe về nhà trọ tại F ấp F, xã V, huyện B. Sau khi bị chiếm đoạt xe, các nhân viên tại chốt kiểm soát số 4 đã tri hô và đuổi theo nhưng không kịp.

Khoảng 17 giờ ngày 17/3/2024, T nhờ Thạch Thanh H (em vợ của T) đến A để lấy xe T gửi trước đó, H đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 50N1-083.78 chở H đến cổng số 3 Trung tâm thương mại A. Tại đây, T nói H mang xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 50N1-083.78 vào bãi xe của siêu thị gửi, còn T đi bộ vào bãi xe lấy xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 50Y1-852.45 của T đã gửi trước đó. Sau khi lấy xe gắn máy này ra, T chở H đến tiệm B4 T để lấy xe gắn máy hiệu Honda Airblade màu trắng, biển số 50N1-313.27 mà T đã trộm được trước đó rồi điều khiển này, còn H điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 50Y1-852.45 về nhà trọ cất giấu. Lúc này, T6 nói cho H biết vừa chiếm đoạt được 01 xe máy hiệu Honda Airblade, biển số 50N1-313.27 và 01 xe máy hiệu Honda Blade biển số 76H1-510.56 tại siêu thị A1.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/3/2024 T nói H mang xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 50N1-313.27 và xe gắn máy hiệu Blade biển số 76H1-510.56 chiếm đoạt được về quê cất giấu để chờ tiêu thụ, H đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe Airblade, biển số 50N1-313.27, còn H điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số 76H1-510.56 về nhà ông nội của T là Nguyễn Văn B1 địa chỉ KV L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ để cất giấu xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số 76H1-510.56 tại đây, rồi T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 50N1-313.27 chở H về nhà bà ngoại H tên Phạm Thị M địa chỉ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long cất giấu chờ tiêu thụ để chờ tiêu thụ.

Ngày 20/3/2024 T nhờ H chở ra bến xe để quay về nhà trọ ở huyện B còn H ở lại để chờ tiêu thụ 02 xe gắn máy trên. Ngày 26/3/2024, anh Nguyễn Văn L3 là nhân viên quản lý bãi xe Trung tâm thương mại A đã đến Công an phường S, quận T trình báo vụ việc.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 664/KL-HDĐGTS ngày 05/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận T kết luận:

  • 01 xe gắn máy hiệu Honda loại Airblade, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát số 50N1-313.27, số máy JF63E1502966, số khung RLHJF6309FZ148895 đã qua sử dụng trị giá 25.800.000 đồng;
  • 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave Blade, màu đỏ đen, biển kiểm soát số 76H1-510.56, số máy JA36E1100065, số khung RLHJA3660NY014276 đã qua sử dụng trị giá 16.500.000 đồng;

Tổng cộng 42.300.000 đồng (Bút lục 27-28).

Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã triệu tập được Nguyễn Văn Vĩnh T và Thạch Thanh H đưa về trụ sở Công an quận T làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Vĩnh T và Thạch Thanh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án.

Ngoài ra, quá trình điều tra xác định T và H còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn quận B, huyện B, huyện H cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Ngày 06/3/2024, Nguyễn Văn Vĩnh T đi bộ một mình quanh khu vực xã V, huyện B tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T phát hiện bà Dương Thị Bích L điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Click, biển số 59E2-156.62 dừng trước địa chỉ 1674 đường V, Ấp F, xã V, huyện B, chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa công tắc xe rồi đi vào trong nhà, T quan sát xung quanh thấy không có người trông coi liền lén đến xe gắn máy trên, leo lên xe ngồi, vặn chìa khóa khởi động xe rồi lấy trộm và điều khiển xe về cất giấu tại nhà trọ không số, Tổ A, Ấp F, xã V, huyện B. Tại đây, T mở cốp xe ra thì thấy bên trong có số tiền 1.200.000 đồng nên T lấy số tiền này tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 27/3/2024 bà Dương Thị Bích L đã đến Công an xã V, huyện B trình báo vụ việc.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 1341/KL-HDĐGTS ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 xe máy biển số 59E2-156.62, nhãn hiệu Honda Click, số khung RLHJF1802AY873071, số máy JF18E0242478 trị giá 9.000.000 đồng (Bút lục 441).

Vụ thứ hai:

Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 15/3/2024, Nguyễn Văn Vĩnh T điều khiển xe gắn máy (không rõ biển số) chở Thạch Thanh H tìm tài sản sở hở để trộm cắp. Khi đến trước nhà số A T, phường B, quận B thì T và H thấy 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 50N1-083.78 của chị Mai Ngọc H2 dựng ở trước nhà, chìa khóa xe đang cắm trên ổ khóa công tắc xe và không có người trông coi. Lúc này, T ra hiệu cho H biết rồi nhảy xuống xe còn H điều khiển xe quay ra hướng Quốc Lộ A để cảnh giới. T lén đến xe gắn máy biển số 50N1-083.78 rồi ngồi lên xe mở chìa khóa và điều khiển xe đến vị trí H cảnh giới, sau đỏ cả hai cùng điều khiển xe về cất giấu tại phòng trọ địa chỉ F1/2 ấp 6c, xã V, huyện B. Ngày 27/3/2024 chị Mai Ngọc H2 đã đến Công an phường B, quận B trình báo vụ việc.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 152/KL-HDĐGTS ngày 16/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận B kết luận: 01 xe mô tô Honda Vision màu đỏ biển số 50N1-083.78 đã qua sử dụng trị giá 16.000.000 đồng (Bút lục 552-553)

Vụ thứ ba:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/3/2024, T điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision biển số 50N1-083.78 chở H qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đến trước số K đường số D, ấp B, xã X, huyện H, T phát hiện ông Trần Văn T2 dựng 01 xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 50Y1-852.45, chìa khóa xe đang cắm trên ổ khóa công tắc xe, lợi dụng lúc ông T2 đang mua rau, quay mặt về phía trong sạp và không quan sát xe, T liên nói H điều khiển xe Vision ra đầu cổng chợ đầu mối H chờ T còn đi bộ lại tiếp cận xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 50Y1-852.45 bật ổ khóa xe rồi lấy trộm điều khiển xe bỏ đi, sau đó ông T2 phát hiện tri hô, đuổi theo nhưng không kịp. Sau khi chiếm đoạt được xe, T điều khiển xe đến vị trí H đang chờ rồi cả hai cùng điều khiển xe về nhà trọ tại địa chỉ số F ấp F xã V, huyện B. Ngày 21/5/2024 ông Trần Văn T2 đã đến Công an xã X, huyện H trình báo vụ việc.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 664/KL-HDĐGTS ngày 05/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 chiếc xe máy hiệu Honda Future FI, màu sơn đỏ đen biển số 50Y1-852.45, số khung RLHJC7653NY143010, số máy JC90E0310692 trị giá 22.000.000 đồng (Bút lục 372-373).

Vụ thứ tư:

Ngày 16/3/2024, T rủ Thạch Thanh H đi tìm tài sản sở hở để trộm cắp, H đồng ý. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, T điều khiển xe gắn máy biển số 50Y1-852.45 chở H lưu thông qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đến trước địa chỉ 1120/5 ấp C, xã A, huyện B, T phát hiện một xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số 54U5-5062 của anh Nguyễn Hoàng T3, chìa khóa cắm sẵn trên ổ khóa công tắc xe, không có người trông coi nên chỉ cho H thấy. T liền đi bộ tiến lại xe gắn máy trên, bật chìa khóa khởi động xe rồi điều khiển xe vừa trộm được còn H đứng ngoài cảnh giới, sau khi T lấy trộm được xe gắn máy thì cả hai cùng điều khiển xe tẩu thoát. Sau đó, T phát hiện trong cốp xe có Giấy đăng ký xe nên đã mang xe hiệu Honda Wave RSX, biển số 54U5-5062 vừa trộm được đến tiệm cầm đồ địa chỉ D20/25H, Ấp D, xã V, huyện B cầm cho anh Nguyễn Văn D với giá 5.000.000 đồng, sau đó T cho H số tiền 3.000.000 đồng, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 1793/KL-HDĐGTS ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 54U5-5062, số khung RLHJC4332AY235414, số máy JC43E5710546 trị giá 7.800.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: Có danh sách bản kê vật chứng kèm theo Cáo trạng

Về phần dân sự: Các bị hại chị Lê Hoàng Kim C1, chị Lê Mỹ C, chị Mai Ngọc H2, ông Trần Văn T2, anh Nguyễn Hoàng T3, bà Dương Thị Bích L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.

Tại bản Cáo trạng số: 239/CT-VKSQ.TP ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã:

Truy tố bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T về tội: “Cướp giật tài sản” và tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171; điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Truy tố bị cáo Thạch Thanh H về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tại phiên Tòa:

Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

* Đối với bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T:

  • Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội: “Cướp giật tài sản".
  • Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b,g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T từ 07 năm đến 08 năm tù.

* Đối với bị cáo Thạch Thanh H:

  • Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Thanh H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Thạch Thanh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Thạch Thanh H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Các bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T, Thạch Thanh H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của những người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 17/3/2024 tại Trung tâm thương mại A, số C T, phường S, quận T, Nguyễn Văn Vĩnh T đã có hành vi cướp giật 01 xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số 76H1-510.56 trị giá 16.500.000 đồng của chị Lê Hoàng Kim C1 và trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Honda Airblade, biển số 50N1-313.27 trị giá 25.800.000 đồng của chị Lê Mỹ C. Đối với Thạch Thanh H biết rõ các xe gắn máy trên là do T phạm tội có nhưng vẫn đồng ý mang đi tiêu thụ thì bị bắt giữ cùng tang vật.

Từ ngày 06/3/2024 đến ngày 16/3/2024, Nguyễn Văn Vĩnh T cùng Thạch Thanh H đã 03 lần có hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn quận B, huyện B, huyện H cụ thể: 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, biển số 50N1-083.78 của chị Mai Ngọc H2 trị giá 16.000.000 đồng, 01 xe gắn máy hiệu Honda Future, biển số 50Y1-852.45 của ông Trần Văn T2 trị giá 22.000.000 đồng, 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số 54U5-5062 trị giá 7.800.000 đồng của anh Nguyễn Hoàng T3, tổng tài sản trộm cắp trị giá 45.800.000 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Văn Vĩnh T còn có hành vi trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Honda Click, biển số 59E2-156.62, trị giá 9.000.000 đồng của bà Dương Thị Bích L. Như vậy, tổng số tài sản Nguyễn Văn Vĩnh T trộm cắp trị giá 54.800.000 đồng, tổng số tài sản Thạch Thanh H trộm cắp trị giá 45.800.000 đồng;

Vì vậy, Cáo trạng số: 239/CT-VKSQ.TP ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T về tội: “Cướp giật tài sản” và tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171; điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Truy tố bị cáo Thạch Thanh H về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra phù hợp với nhân thân của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì giữa các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự phân công, bàn bạc và câu kết chặt chẽ.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • Đối với bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T về tội: “Trộm cắp tài sản”: Phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm g,b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Đối với bị cáo Thạch Thanh H về tội: “Trộm cắp tài sản”: Phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã được thu hồi và trao trả đầy đủ cho những người bị hại, nên hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s,h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T, Thạch Thanh H trong trường hợp phạm nhiều tội.

[7] - Đối với anh Nguyễn Văn D khi nhận cầm xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX, biển số 54U5-5062 không biết do T phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý là phù hợp.

- Đối với ông Nguyễn Văn B1 và bà Phạm Thị M không biết xe gắn máy hiệu Honda Blade, biển số 76H1-510.56 và xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số 50N1-313.27 để tại nhà là do các bị can phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý là phù hợp.

[8] Về trách nhiệm dân sự: những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • Thu giữ của Nguyễn Duy P: 01 dĩa CD-R hiệu Maxell màu vàng, ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 17/3/2024 tại Trung tâm thương mại A (Bút lục 229), (Lưu hồ sơ vụ án);
  • Thu giữ của chị Thạch Thị T4: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y36, số Imei 1: 862603069183356, số Imei 2: 862603069183349, chị T4 sử dụng liên lạc cá nhân (Bút lục 282). Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho chị T4.
  • Thu giữ của anh Nguyễn Văn D:
    • Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave RSX màu xanh bạc đen, biển số: 54U5-5062, số máy: C43E-5710546, số khung: 321AY-235414, là xe T và H trộm của anh Nguyễn Hoàng Tổng . Qua xác minh, xe gắn trên do Từ Bích T5 thường trú tại G Đ, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sơ hữu. Chị T5 cho biết đã bán xe trên cho anh Nguyễn Hải Đ vào năm 2010. Qua làm việc anh Đ cho biết ngày 16/3/2024 cho anh vợ là Nguyễn Hoàng T3 mượn xe làm phương tiện đi lại thì bị mất trộm. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Nguyễn Hải Đ (Bút lục 347) là phù hợp.
    • Đối với 01 giấy đăng ký xe số 016472 tên chủ xe Từ Bích Thủy, Cơ quan điều tra đã trả cho anh Nguyễn Hải Đ (Bút lục 347) là phù hợp.
  • Thu giữ của chị Châu Thị Ngọc L1: 01 thẻ gửi xe máy số 109514 (Bút lục 144), (Lưu hồ sơ vụ án);
  • Thu giữ của ông Nguyễn Văn B1: 01 xe máy hiệu Honda Blade, màu đỏ đen, biển số 76H1-510.56, số máy: JA36E1100065, số khung: RLHJA3660NY014276 là xe gắn máy T và H trộm cắp của chị Châu Thị Ngọc L1. Qua xác minh, xe trên do bà Lê Thị L2 thường trú xã T, huyện P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi đứng tên chủ sở hữu. Khoảng tháng 12/2022 bà L2 cho con gái là Châu Thị Ngọc L1 mượn làm phương tiện đi lại thì bị mất trộm. Bà L2 có giấy ủy quyền cho chị L1 nhận lại xe gắn máy trên. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả lại xe gắn máy trên cho chị Châu Thị Ngọc L1 (Bút lục 48) là phù hợp.
  • Thu giữ của Nguyễn Văn Vĩnh T:
    • Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Click màu xanh, biển số 59E2-156.62, số khung: RLHJF1802AY873071, số máy: JF18E0242478, là xe Thanh trộm cắp của chị Dương Thị Bích L. Qua xác minh xe trên do chị Dương Thị Bích L thường trú: 289/10 P, phường A, quận P đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra đã trả xe gắn máy trên cho chị Dương Thị Bích L (Bút lục 380) là phù hợp.
    • Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 50N1-083.78, số khung: RLHJF5807EY449902, số máy: JF58E0335704, là xe T và H trộm của chị Mai Ngọc H2.Qua xác minh xe gắn máy trên do chị Mai Ngọc H2, thường trú nhà số A T, phường B, quận B đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả cho chị Mai Ngọc H2 là phù hợp.
    • Đối với 01 ổ khóa dĩa và 01 chìa khóa hiệu Việt – Tiệp. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 quần short màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu trắng in hoa văn màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần short jean màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu trắng có kẻ sọc ngang, là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Future, màu đỏ đen, biển số: 50Y1-852.45, số khung: RLHJC7653NY143010, số máy: JC90E0310692, là xe T và H trộm của ông Trần Văn T2. Qua xác minh xe trên do Hoàng L4 Khoa thường trú A B, Bà Đ1, H đứng tên chủ sở hữu. Ông K cho biết đã bán xe trên cho ông Trần Văn T2 vào khoảng đầu tháng 7/2022. Cơ quan điều tra đã lại xe gắn máy trên cho ông Trần Văn T2 (Bút lục 388) là phù hợp.
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1376 màu đen; số Imei: 359097701325618; số Imei 2: 359097701825617, T sử dụng liên lạc cá nhân (Bút lục 62). Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T.
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S màu đen; số Imei: 350246955915975; số Imei 2: 353931245915979, T sử dụng liên lạc cá nhân (Bút lục 62). Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T.
  • Thu giữ của Thạch Thanh H:
    • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11, màu đen, số Imei 1: 865504061971706, số Imei 2: 865504061971714, đã qua sử dụng, H sử dụng liên lạc cá nhân (Bút lục 120). Xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo H.
    • Đối với 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu trắng đen bạc, biển số: 50N1-313.27, số máy: JF63E1502966, số khung: RLHJF6309FZ148895, là xe Thanh trộm cắp của chị Lê Mỹ C. Qua xác minh xe trên do chị Lê Mỹ O, thường trú 3/9, đường số A, phường B, quận B đứng tên chủ sở hữu. Chị O cho biết ngày 17/03/2024 cho chị Lê Mỹ C mượn để đi công việc thì bị mất trộm. Cơ quan điều tra đã trả xe trên cho chị Lê Mỹ O (Bút lục 49) là phù hợp.

Các vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 214/PNK ngày 25/6/2024.

[10] Án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T, Thạch Thanh H. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T phạm tội: “Cướp giật tài sản” và tội: “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Thạch Thanh H phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và tội: “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2.1] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”.

[3] Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51; điểm b,g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3.1] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T 03 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

[4] Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 07 (Bảy) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 01/04/2024.

[5] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5.1] Xử phạt: bị cáo Thạch Thanh H 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản".

[6] Áp dụng: khoản 1 Điều 323; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6.1] Xử phạt: bị cáo Thạch Thanh H 01 năm tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

[7] Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.

- Buộc bị cáo Thạch Thanh H phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 01/04/2024.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Lưu hồ sơ vụ án: 01 dĩa CD-R hiệu Maxell màu vàng, ghi lại diễn biến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 17/3/2024 tại Trung tâm thương mại A; 01 thẻ gửi xe máy số 109514.
  • Trả lại cho chị Thạch Thị T4: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y36, số Imei 1: 862603069183356, số Imei 2: 862603069183349.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 ổ khóa dĩa và 01 chìa khóa hiệu Việt – Tiệp; 01 quần short màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu trắng in hoa văn màu đen; 01 áo khoác màu đen; 01 quần short jean màu xanh; 01 áo thun ngắn tay màu trắng có kẻ sọc ngang.
  • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T: 01 điện thoại di động hiệu Nokia TA-1376 màu đen; số Imei: 359097701325618; số Imei 2: 359097701825617; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04S màu đen; số Imei: 350246955915975; số Imei 2: 353931245915979.
  • Trả lại cho bị cáo Thạch Thanh H: 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 11, màu đen, số Imei 1: 865504061971706, số Imei 2: 865504061971714.

Các vật chứng còn lại hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 214/PNK ngày 25/6/2024 của Công an quận T.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T, Thạch Thanh H. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn Vĩnh T, Thạch Thanh H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Người tham gia tố tụng;
  • TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • VKSND Q.Tân Phú;
  • THADS quận Tân Phú;
  • Công an Q. Tân Phú;
  • Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • Sở Tư pháp TP. HCM;
  • Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2024/HSST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 248/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản, Cướp giật tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger