|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 248/2024/HS-ST Ngày: 12-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Chung.
- Ông Ngô Kim Thành.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vương Văn D; sinh năm 1995; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Xóm Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Vương Văn T và bà Đỗ Thị T1; vợ: Không, có thời gian sinh sống như vợ chồng với chị Đặng Thị P và có 01 con chung; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 08-7-2024, chuyển tạm giam ngày 17-7-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08-7-2024, nhận được tin tố giác của quần chúng nhân dân, Tổ công tác Công an thành phố N kiểm tra tại nhà nghỉ T2, địa chỉ 27 + 29 đường N, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định do bà Bùi Thị H, sinh năm 1970 làm chủ, phát hiện tại phòng 205 có Vương Văn D, Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987, trú tại F T, phường T (Nay là phường V), thành phố N và Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1978, trú tại 1 H, phường Q, thành phố N đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi ni lông màu trắng kích thước (2,5 x 2) cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Niêm phong ký hiệu M1); 01 vỏ túi ni lông màu trắng kích thước (6,5 x 4) cm; 01 đoạn ống nhựa màu xanh dài 6 cm, một đầu hàn kín, một đầu vát nhọn, bên trong có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Niêm phong ký hiệu M2); 01 bật lửa bằng kim loại màu trắng, dưới đáy có chữ ZIPPO kích thước (5,5 x 3,51) cm; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm phần đầu có gắn 01 ống kim loại hình trụ tròn dài 3,5 cm, trên thân bật lửa có chữ MH; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm, trên thân bật lửa có chữ HOA VIỆT; 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng dài 10 cm; 01 khay nhựa màu vàng hình chữ nhật kích thước (30 x 23) cm, trên khay nhựa có 01 chai nhựa có nắp xanh, trên nắp chai có 02 lỗ, một lỗ cắm 01 đoạn ống nhựa dài 27 cm, một lỗ cắm ống thuỷ tinh dài 14 cm một đầu hình cầu, trong hình cầu có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng (Niêm phong ký hiệu M3). Tạm giữ của D 01 điện thoại di động mặt sau có chữ Iphone màu trắng đen đã cũ, 01 xe máy biển kiểm soát 16H1 - 5560 đã cũ, 01 căn cước công dân mang tên Vương Văn D; của Nguyễn Thị H1 01 điện thoại Di động mặt sau có chữ OPPO màu trắng đen đã cũ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Vương Văn D, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Thu H2 niêm phong ký hiệu lần lượt N1, N2, N3.
- Bản kết luận giám định số 1279/KL-KTHS ngày 15-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
2
+ Mẫu dạng tinh thể màu trắng và mẫu dạng tinh thể màu trắng bám dính được niêm phong ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định đều là ma tuý. Loại ma tuý: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M1: 0,039 gam; Khối lượng mẫu M2: không xác định được khối lượng mẫu; Khối lượng mẫu M3: 0,157 gam.
+ Đều có tìm thấy thành phần chất Methamphetamine trong 03 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1, N2, N3 gửi giám định.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vương Văn D tại xóm Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định, không thu giữ gì.
Tại Cơ quan điều tra, Vương Văn D, Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Thu H2 khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 05-7-2024, D điều khiển xe máy biển kiểm soát 16H1-5560 đến khu vực Quốc lộ A, thị trấn G, huyện V, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông (Không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 túi ma tuý dạng đá với giá 500.000 đồng, mang về nhà cất giấu. Khoảng 12 giờ ngày 08-7-2024, Dương cầm túi ma tuý đá và dụng cụ sử dụng ma tuý, điều khiển xe máy đến nhà nghỉ T2 gặp bà Phạm Thị D1, sinh năm 1968 hỏi thuê phòng và mua 01 chai nước lọc. Bà D1 đưa cho D một chai nước nhãn hiệu AVIA loại 500 ml và chìa khoá phòng 205. Khi vào phòng, D lấy 01 khay nhựa màu vàng hình chữ nhật kích thước khoảng (30 x 23) cm có sẵn trong phòng để lên giường, để chai nước lên trên khay. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, D sử dụng số thuê bao 0916382682 của mình gọi đến số thuê bao 0825500116 của Nguyễn Thị H1 rủ đến nhà nghỉ T2. H1 đồng ý rủ Phạm Thị Thu H2 đi cùng (Thu H2 cũng quen D). Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 đến nhà nghỉ gặp D, D rủ Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 cùng sử dụng ma tuý, cả hai đồng ý. D lấy túi ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý từ trong túi quần bên phải để xuống giường rồi sử dụng chiếc kéo bằng kim loại khoét 02 lỗ trên nắp chai nước có chữ AVIA để trên khay nhựa, lấy ống hút màu trắng và ống thuỷ tinh có một đầu hình cầu gắn vào 02 lỗ trên nắp chai. D lấy túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2,5 x 2) cm bên trong có ma tuý đá, dùng ống hút nhựa màu xanh dài khoảng 06 cm có một đầu vát nhọn xúc một phần ma tuý cho vào cóng thuỷ tinh trên nắp chai nước rồi dùng bật lửa dài 7,5 cm, phần đầu có gắn 01 ống kim loại hình trụ tròn dài 3,5 cm đốt cóng thuỷ tinh chứa ma tuý và sử dụng bằng hình thức hút. Sau đó D lần lượt dùng chiếc bật lửa đốt cóng thuỷ
3
tinh và đưa cho Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 sử dụng ma tuý. khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản Cáo trạng số 239 CT-VKSTPNĐ ngày 15-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vương Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo Vương Văn D có đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung là tổ chức sử dụng cho hai người trở lên. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Vương Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Vương Văn D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Vương Văn D.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 1279/KL-KTHS ký hiệu M1, M2, M3; 01 túi niêm phong số 1279/KL-KTHS ký hiệu N1, N2, N3; 01 vỏ túi nilong mầu trắng kích thước (6,5 x 4) cm; 01 bật lửa bằng kim loại mầu trắng kích thước (5,5 x 3,5 x 1) cm dưới đáy bật lửa có chữ ZIPPO; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm phần đầu có gắn một ống kim loại hình trụ tròn dài 3,5 cm trên thân bật lửa có chữ MH; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm trên thân bật lửa có chữ Hoa Việt; 01 chiếc kéo bằng kim loại mầu trắng dài 10 cm; 01 khay nhựa mầu vàng hình chữ
4
nhật kích thước (30 x 23) cm; 01 chai nhựa cao 22 cm trên thân nhựa có chữ AVIA nắp chai mầu xanh trên nắp chai có hai lỗ; 01 đoạn ống nhựa mầu trắng dài 27 cm.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động mặt sau có chữ iphone màu trắng đen đã cũ được niêm phong trong túi có mã số NS41913217.
Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân mang tên Vương Văn D.
Bị cáo Vương Văn D không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vương Văn D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Vương Văn D tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Báo cáo về việc tiếp nhận nguồn tin tội phạm ngày 08-7-2024; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08-7-2024; dữ liệu bản ảnh vật chứng; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 08-7-2024; bản kết luận giám định số 1279/KL-KTHS ngày 15-7-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng thời gian từ 12 giờ đến 13 giờ 30 phút 08-7-2024, Vương Văn D đã có hành vi dùng ma tuý Methamphetamine tổ chức cho Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang tại phòng 205 nhà nghỉ T3 + 29 N, phường L, thành phố N. Trong vụ án này, bị cáo là người khởi xướng; cung cấp địa điểm; cung cấp ma tuý; rủ rê Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 sử dụng ma tuý; thực hiện các hoạt động cụ thể để sử
5
dụng ma túy. Bị cáo tổ chức sử dụng ma tuý với hai người trở lên là Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 nên là tình tiết định khung tăng nặng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Vương Văn D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vương Văn D không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Vương Văn D là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Vương Văn D không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng, đồ vật, tài sản:
Căn cứ quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án như sau:
- Đối với: 01 phong bì niêm phong số 1279/KL-KTHS ký hiệu M1, M2, M3 là vật Nhà nước cấm sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 túi niêm phong số 1279/KL-KTHS ký hiệu N1, N2, N3 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 01 vỏ túi nilong mầu trắng kích thước (6,5 x 4) cm; 01 bật lửa bằng kim loại mầu trắng kích thước (5,5 x 3,5 x 1) cm dưới đáy bật lửa có chữ ZIPPO; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm phần đầu có gắn một ống kim loại hình trụ tròn dài 3,5 cm trên thân bật lửa có chữ MH; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm trên thân bật lửa có chữ Hoa Việt;
6
01 chiếc kéo bằng kim loại mầu trắng dài 10 cm; 01 khay nhựa mầu vàng hình chữ nhật kích thước (30 x 23) cm; 01 chai nhựa cao 22 cm trên thân nhựa có chữ AVIA nắp chai mầu xanh trên nắp chai có hai lỗ, 01 đoạn ống nhựa mầu trắng dài 27 cm là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 điện thoại di động mặt sau có chữ Iphone màu trắng đen đã cũ được niêm phong trong túi có mã số NS41913217 là phương tiện bị cáo liên lạc rủ rê Nguyễn Thị H1 để tổ chức sử dụng ma tuý nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với thẻ căn cước công dân được xác định là của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
[7] Một số vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D, tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với hành vi sử dụng ma túy ngày 08-7-2024 của Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã xác định hành vi của Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 không cấu thành đồng phạm của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đồng thời đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Thị H1 và Phạm Thị Thu H2 là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 xe máy biển kiểm soát 16H1-5560 đã cũ chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 điện thoại di động mặt sau có chữ OPPO màu trắng đen thu giữ của Nguyễn Thị H1 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho Nguyễn Thị H1 là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với bà Bùi Thị H là chủ sở hữu nhà nghỉ T2 đã có hành vi “Để xẩy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma tuý trong khu vực kinh doanh lưu trú do mình quản lý” nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính về hành vi trên là đúng quy định của pháp luật.
7
- Đối với bà Phạm Thị D1 là lễ tân nhà nghỉ T2 không biết Vương Văn D và các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 205 nhà nghỉ T2 nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[8] Về án phí:
Bị cáo Vương Văn D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Vương Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Xử phạt bị cáo Vương Văn D 07 năm 06 tháng (Bẩy năm sáu tháng) tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08 tháng 7 năm 2024.
2. Xử lý vật chứng:
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 1279/KL-KTHS ký hiệu M1, M2, M3; 01 túi niêm phong số 1279/KL-KTHS ký hiệu N1, N2, N3; 01 vỏ túi nilong mầu trắng kích thước (6,5 x 4) cm; 01 bật lửa bằng kim loại mầu trắng kích thước (5,5 x 3,5 x 1) cm dưới đáy bật lửa có chữ ZIPPO; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm phần đầu có gắn một ống kim loại hình trụ tròn dài 3,5 cm trên thân bật lửa có chữ MH; 01 bật lửa bằng nhựa dài 7,5 cm trên thân bật lửa có chữ Hoa Việt; 01 chiếc kéo bằng kim loại mầu trắng dài 10 cm; 01 khay nhựa mầu vàng hình chữ nhật kích thước (30 x 23) cm; 01 chai nhựa cao 22 cm trên thân nhựa có chữ AVIA nắp chai mầu xanh trên nắp chai có hai lỗ; 01 đoạn ống nhựa mầu trắng dài 27 cm.
8
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động mặt sau có chữ iphone màu trắng đen đã cũ được niêm phong trong túi có mã số NS41913217.
- Trả lại bị cáo một thẻ căn cước công dân mang tên Vương Văn D.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhân vật chứng ngày 22-10-2024 giữa Công an thành phố N và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định).
3. Án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.
- Bị cáo Vương Văn D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Bị cáo Vương Văn D được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |
9
Bản án số 248/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 248/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Văn D phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
