TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 248/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Trị
Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị T, sinh năm 2000 (có mặt).
Trú tại: Khối A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (Có mặt).
Bị đơn: Anh Đàm Quang T1, sinh năm 1988.
Trú tại: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai, tại phiên tòa nguyên đơn chị Đoàn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng quen biết nhau, tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện T vào ngày 22/02/2023. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống không hạnh phúc vợ chồng thường xuyên kình cãi. Nguyên nhân: Anh T1 thường xuyên cờ bạc gây nợ nần. Ông cũng nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T1 vẫn chứng nào tật nấy. Nay tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau từ đầu tháng 6/2023 cho đến nay nên chị yêu cầu ly hôn với anh Đàm Quang T1.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đàm Tuệ M, sinh năm 24/9/2023. Hiện con chung đang sống với chị T. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung đến trưởng thành, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Anh Đàm Quang T1 vắng mặt không có lý do.
Về các thủ tục giải quyết ly hôn đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc về việc chị T xin ly hôn, nhưng anh Đàm Quang T1 đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản hoặc quan điểm gửi Tòa án, vì vậy Tòa án không biết quan điểm của anh T1 về những nội dung chị T yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời Tòa án cũng không tiến hành hòa giải được, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn anh Đàm Quang T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh T1. Về nội dung: Áp dụng Điều 51, 56 và 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị T, cho chị Đoàn Thị T được ly hôn với anh Đàm Quang T1. Về con chung: Giao cháu Đàm Tuệ M, sinh năm 24/9/2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; Anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con, vì chị T không yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Toà giải quyết nên không xét; Về án phí: Chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của bị đơn anh Đàm Quang T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại Điều 227, 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị T và anh Đàm Quang T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 20/02/2023 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc thường xuyên kình cãi. Nguyên nhân theo chị T trình bày: Anh T1 thường xuyên cờ bạc gây nợ nần. Ông cũng nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh T1 vẫn chứng nào tật nấy. Nay tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Anh T1 không quan tâm lo lắng gì cho vợ, phần ai nấy sống, vợ chồng ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng Anh T1 không đến Tòa, vẫn bỏ mặc cho tình trạng hôn nhân của mình.
Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ ngày 03/6/2024 Công an thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định cung cấp: Anh Đàm Quang T1, sinh năm 1988 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại 140/9 Q, khối D, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định theo số hộ khẩu của anh T1 đứng tên chủ hộ, hiện anh Đàm Quang T1 vẫn ở địa phương chưa chuyển khẩu đi đâu. Việc anh Đàm Quang T1 không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ anh Đàm Quang T1 không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh T1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn anh T1.
[3] Về con chung: Chị T và anh T1 có 01 con chung tên Đàm Tuệ M, giới tính: Nữ, sinh năm 24/9/2023. Cháu M từ khi sinh đến nay ở với chị T, A không quan tâm đến con, không có trách nhiệm gì với con. Vì vậy giao con chung Đàm Tuệ M cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, chị T nhận trách nhiệm nuôi con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của chị T nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đoàn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, chị Đoàn Thị T phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003652 ngày 29/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
[6] Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tại phiên toà là phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị T được ly hôn với anh Đàm Quang T1.
- Về con chung: Giao cháu Đàm Tuệ M, giới tính: Nữ, sinh năm 24/9/2023 cho chị Đoàn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đoàn Thị T không yêu cầu nên không xét.
Anh Đàm Quang T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đoàn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đoàn Thị T phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003652 ngày 29/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn. Chị T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Minh Trí |
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 248/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 248/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Th xin ly hôn anh T vì mâu thuẫn gia đình
