Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 248/2024/HS-ST

Ngày: 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thiều Thị Phi Loan.
  2. Ông Trần Văn Tam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 228/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Ngọc T; tên gọi khác: Không, sinh năm 1988, tại Phú Thọ.

Nơi đăng ký HKTT: Khu B, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Tổ D, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc O, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1967; bị cáo có vợ Hà Thị Thu T2, sinh năm 1991, chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt quả tang ngày 10/09/2023, chuyển tạm giam theo lệnh số 1517 ngày 18/09/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Đ (Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Ngọc T là người sử dụng trái phép chất ma túy (H). Để có tiền sử dụng ma túy, T đã nảy sinh ý định mua bán ma túy với cách thức như sau: Từ ngày 01-9-2023 đến ngày 10-9-2023, T đã 02 lần đến khu vực khu du lịch “S" thuộc thành phố T, thành phố B, liên lạc với một người phụ nữ (không rõ lai lịch) qua số điện thoại 0393.348.xxx để gặp và mua mỗi lần 01 gói Heroin với giá từ 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) đến 1.000.000đ (Một triệu đồng). Sau đó T mang Heroin về phòng trọ của T tại tổ D, khu phố L, phường T, thành phố B, lấy 01 phần ra sử dụng, phần còn lại phân thành nhiều tép nhỏ để bán với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng)/tép. Người nghiện sẽ liên lạc với T qua số điện thoại 0981.994.xxx để hỏi mua H, T đồng ý và hẹn người nghiện địa điểm bán Heroin. Với cách thức như trên, từ ngày 05-9-2023 đến ngày 10-9-2023, T đã bán ma túy cụ thể:

  • Lần 1: Khoảng 12 giờ ngày 05-9-2023, tại khu vực khu Công nghiệp T, thành phố B, T đã bán cho 01 người thanh niên (Chưa rõ lai lịch) 01 tép Heroin với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
  • Lần 2: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 10-9-2023, tại khu vực khu phố T, phường T, thành phố B, T bán cho 01 người đàn ông khoảng 43 tuổi (Chưa rõ lai lịch, sử dụng số thuê bao 0363658197) 02 tép Heroin với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  • Lần 3: Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực khu phố T, phường T, thành phố B, T bán cho 01 người đàn ông khoảng 45 tuổi (Chưa rõ lai lịch) 03 tép Heroin với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
  • Lần 4: Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, người đàn ông khoảng 43 tuổi (Chưa rõ lai lịch) sử dụng số thuê bao 0363658197 gọi cho T hỏi mua 06 tép Heroin với giá 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), T đồng ý. Khi T đem theo Heroin đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ B, khu phố T, phường T, thành phố B để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang T cùng tang vật.

Quá trình phạm tội, T thu lợi bất chính được số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra đã có công văn gửi xác minh các số thuê bao 0393348790 và 0363658197 nhưng đến nay chưa có kết quả. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

- Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng chứa trong nắp sau điện thoại Samsung số Imei 356902/08/767535/8 không có gắn pin, T cất trong túi áo khoác bên trái đang mặc được niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của T và hình dấu tròn đỏ công an phường T (Kí hiệu M1).
  • 06 (sáu) tép đựng trong đoạn ống nhựa hàn kín bên trong chứa chất bột màu trắng đựng trong túi nylon để ở gác BaGa xe môtô biển số 60M6-9526 được niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của T và hình dấu tròn đỏ công an phường T (Kí hiệu M2).
  • 01 Điện thoại di động hiệu S A8 số seri R58JC3TVB6B số thuê bao 0981994963 của T dùng vào việc phạm tội.
  • 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) là tiền bán ma túy mà có.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung số thuê bao 0818936178 số Imei 355079080348993 dùng vào việc phạm tội.
  • 01 xe môtô biển số 60M6-9526: T khai mượn của 01 người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch). Qua xác minh, xe trên do chị Nguyễn Thị Linh K - Sinh năm 1983 thường trú: 762//5, khu phố D, phường T, thành phố B đứng tên đăng ký sở hữu. Chị K khai đã bán xe môtô trên cho một người đàn ông (Chưa rõ lai lịch). Do chưa làm rõ được nguồn gốc xe môtô trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Tại bản kết luận số 2029/KL-KTHS ngày 14-9-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận:

  • Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng: 0,1067 gam, loại: Heroine (Heroin).
  • Mẫu chất bột màu trắng (Ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, khối lượng: 0,1965 gam, loại: Heroine (Heroin).

Tại Bản cáo trạng số 240/CT-VKSBH ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo điều khoản và tội danh đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù giam.

Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý với nội dung truy tố, không có ý kiến bào chữa, tranh luận đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo T không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Trên cơ sở khai nhận tội của bị cáo T tại phiên tòa, phù hợp với các lời khai của bị cáo T tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định:

Vào các ngày 05-9-2022 và 10-9-2023, tại khu vực khu Công nghiệp T và khu vực khu phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, bị cáo T đã 03 lần bán tổng cộng 06 tép Heroin cho 03 người nghiện (Chưa rõ lai lịch) với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng)/tép.

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 10-9-2023, tại khu vực đường dân sinh thuộc tổ B, khu phố T, phường T, thành phố B, khi bị cáo đem theo 06 tép ma túy loại Heroin có khối lượng 0,1965 gam với mục đích bán cho người nghiện (Chưa rõ lai lịch) và cất giấu 0,1067 gam Heroin với mục đích để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phường T phát hiện bắt giữ và xử lý.

Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung “phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Từ những căn cứ trên, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo T là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có đầy đủ khả năng nhận thức pháp luật, bị cáo biết ma túy làm hủy hoại sức khỏe, nhân cách, ảnh hưởng đến giống nòi, là nguyên nhân phát sinh cho các loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo biết tác hại của ma tuý, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền về ma túy của nhà nước, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử bị cáo một mức án thật nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Đối với khối lượng ma tuý còn lại sau giám định cần phải tịch thu tiêu huỷ. Đối với 01 Điện thoại di động hiệu S, 01 Điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A8 bị cáo dùng vào phạm tội, 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) do bị cáo bán ma túy mà có cần phải tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

- Buộc bị cáo Phạm Ngọc T nộp lại số tiền do phạm tội mà có 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.

- 01 xe môtô biển số 60M6-9526: Bị cáo khai mượn của 01 người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch); Qua xác minh, xe trên do chị Nguyễn Thị Linh K - Sinh năm 1983 thường trú: 762/5, khu phố D, phường T, thành phố B đứng tên đăng ký sở hữu; Chị K khai đã bán xe môtô trên cho một người đàn ông (Chưa rõ lai lịch). Do chưa làm rõ được nguồn gốc xe môtô trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

[7] Về vấn đề khác: Đối với người phụ nữ chưa rõ lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau

[8] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

+ Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/09/2023.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • - Tịch thu tiêu huỷ khối lượng ma tuý còn lại sau giám định 01 gói niêm phong theo bản kết luận số 2029/KL-KTHS ngày 14/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
    • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 Điện thoại di động hiệu Samsung số Imei 356902/08/767535/8, 01 Điện thoại di động hiệu S A8 số seri R58JC3TVB6B theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
    • - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002221 ngày 22/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà.
    • - Buộc bị cáo Phạm Ngọc T nộp lại số tiền do phạm tội mà có 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • + Buộc bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND Tp.Biên Hòa (01);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (01);
  • - Công an Tp.Biên Hòa (01);
  • - Cơ quan Thi hành án (01);
  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (01);
  • - Lưu VP-HS (05).

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Trúc Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 248/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Thành mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger