|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 248/2024/DS-ST
Ngày: 06/8/2024
V/v “T/c Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Mỹ Hường
- Ông Đặng Hữu Tấn
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Tạ Kim Oanh – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 311/2024/TLST-DS, ngày 24/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2024/QĐXXST – DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 418/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X (E)
- Đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Hà P - Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
- Địa chỉ trụ sở: Tầng H - V, G L và D L, phường B, Quận A, TP HCM.
- + Người đại diện theo ủy quyền: Đoàn Văn A – Giám đốc (E – An Giang) theo Giấy ủy quyền số 630/2023/EIB/UQ – CTHĐQT ngày 29/12/2023.
- + Ông Đoàn Văn A – Giám đốc E – An Giang ủy quyền cho ông Huỳnh Quốc V – Trưởng phòng Khách hàng cá nhân theo Giấy ủy quyền số 81/2024/ EIBAG/UQ ngày 10/04/2024.
- + Bị đơn: Bà Dư Thị Kim P1, sinh năm 1981.
- Địa chỉ: Số A L, Khóm Đ P . M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- (Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án ông Huỳnh Quốc V đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP X trình bày:
Ngày 12/01/2022, bà Dư Thị Kim P1 ký Hợp đồng tín dụng số: LAV220002728/1502 vay vốn với Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh A1 số tiền vay 2.000.000.000 đồng. Cụ thể khế ước như sau:
- Khế ước nhận nợ số: 1502 – LDS – 220000167 ngày 12/01/2022, chi tiết:
- + Ngày nhận tiền: 12/01/2022
- + Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng.
- + Mục đích vay: Hoàn tiền người thân để nhận chuyển nhượng bất động sản.
- + Thời hạn vay: 240 tháng, từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/01/2042.
- + Lãi suất cho vay: 0,75%/tháng (9,0%/năm) (Lãi suất cố định 24 tháng kể từ ngày giải ngân. Sau đó, lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở do E công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh công (+) biên độ 2,3%/năm, chu kỳ thay đổi lãi suất 3,0 tháng/lần).
- + Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn.
- + Lịch trả nợ gốc: Nợ gốc được trả thành 240 kỳ, mỗi kỳ cách nhau 01 tháng. Số tiền được trả mỗi kỳ là 8.350.000 đồng. Kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 17/02/2022, kỳ trả nợ gốc cuối cùng là ngày 12/01/2042 vào kỳ trả nợ gốc cuối cùng khách hàng phải trả hết nợ gốc còn lại của khoản vay.
- + Lịch trả nợ lãi: Hàng tháng vào ngày 17 tây. Kỳ đầu tiên trả nợ lãi là ngày 17/02/2022, kỳ trả nợ lãi cuối cùng là ngày 12/01/2042.
* Thực hiện Hợp đồng: Tính đến ngày 06 tháng 05 năm 2024.
- + Đã trả nợ gốc: 217.100.000 đồng.
- + Còn nợ: 1.800.725.281 đồng.
- Vốn: 1.782.900.000 đồng.
- Lãi trong hạn: 17.516.551 đồng.
- Lãi phạt lãi: 308.730 đồng.
* Tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, bà Dư Thị Kim P1 đã ký hợp đồng thế chấp số 07/2022/EIBAG/TDCN – TCTS ngày 12/01/2022, thế chấp bất động sản như sau: Căn nhà diện tích 55,2m² và Quyền sử dụng đất ODT diện tích đất 36,8m² (Thửa đất số: 71; TBĐ: 28) tọa lạc đường C, Phường M, TP., An Giang, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L vào ngày 12/01/2022.
Tạm tính đến ngày 06/8/2024, bà Dư Thị Kim P1 còn nợ số tiền:
- Vốn: 1.782.900.000 đồng.
- Lãi trong hạn: 79.974.605 đồng
- Lãi chậm trả lãi: 1.264.401 đồng
- Lãi quá hạn: 1.070.116 đồng.
- Phí phạt trả nợ trước hạn: 26.242.500đ
Ngân hàng TMCP X yêu cầu Tòa án nhân dân TP. Long Xuyên xem xét giải quyết:
+ Buộc bà Dư Thị Kim P1 phải trả toàn bộ và trả một lần số nợ của Hợp đồng tín dụng trên cho Ngân hàng TMCP X do E - Chi nhánh A1 đại diện nhận số tiền là: 1.891.451.621 đồng trong đó: vốn gốc: 1.782.900.000 đồng, lãi trong hạn: 79.974.605 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.264.401 đồng, lãi quá hạn 1.070.116 đồng và phí phạt trả nợ trước hạn: 26.242.500đ, tính đến ngày 06/8/2024.
+ Yêu cầu tính lãi phát sinh từ ngày 07/9/2024 với mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng số LAV220002728/1502 ngày 12/01/2022 và khế ước nhận nợ số: 1502-LDS-220000167 cho đến khi thanh toán dứt điểm số tiền nợ.
+ Trường hợp bà Dư Thị Kim P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP X do E - Chi nhánh A1 đại diện có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Dư Thị Kim P1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số: 07/2022/EIBAG/TDCN-TCTS ngày 12/01/2022 là phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA 828217 (vào sổ số CH04760) cấp ngày 26 tháng 4 năm 2021 loại đất ở tại đô thị, diện tích: 36.8m², thửa đất số 71, tờ bản đồ số 28 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc D và đã được Văn P2 đăng ký đất đai chi nhánh L ghi chú nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý vào ngày 08/7/2021 cho bà Dư Thị Kim P1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn bà Dư Thị Kim P1 vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Ông Huỳnh Quốc V là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bà Dư Thị Kim P1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Việc chấp hành pháp luật của Thư ký:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thư ký đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đúng quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- - Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng mặt không có lý do, không tham gia các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ngân hàng TMCP X yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Dư Thị Kim P1 là tranh chấp dân sự, bị đơn có địa chỉ tại số A L, khóm Đ phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
[1.2] Ngân hàng TMCP X ủy quyền cho ông Huỳnh Quốc V tham gia tố tụng, thủ tục ủy quyền hợp lệ, phù hợp với Điều 85 và Điều 86 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được Tòa án chấp nhận ông V tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo nội dung văn bản ủy quyền.
[1.3] Tại phiên tòa bà Dư Thị Kim P1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Ngày 12/01/2022, bà Dư Thị Kim P1 ký Hợp đồng tín dụng số LAV220002728/1502 vay vốn với Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh A1 số tiền vay 2.000.000.000 đồng theo khế ước nhận nợ 1502 – LDS – 220000167 ngày 12/01/2022; mục đích vay: Hoàn tiền người thân để nhận chuyển nhượng bất động sản, thời hạn vay: 240 tháng, từ ngày 12/01/2022 đến ngày 12/01/2042; lãi suất bằng 0,75%/tháng (lãi suất cố định 24 tháng kể từ ngày giải ngân). Sau đó, lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở do E công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh công (+) biên độ 2,3%/năm, chu kỳ thay đổi lãi suất 3 tháng/lần.
Để đảm bảo cho khoản vay, bà Dư Thị Kim P1 đã ký hợp đồng thế chấp số 07/2022/EIBAG/TDCN – TCTS ngày 12/01/2022, thế chấp bất động sản như sau: Căn nhà diện tích 55,2m² và Quyền sử dụng đất ODT diện tích đất 36,8m² (Thửa đất số: 71; TBĐ: 28) tọa lạc đường C, phường M, TP ., An Giang, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L vào ngày 12/01/2022.
Trong quá trình vay vốn, bà Dư Thị Kim P1 đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. E đã liên hệ yêu cầu bà Dư Thị Kim P1 trả nợ nhưng bà P1 không thực hiện theo yêu cầu và cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Tạm tính đến ngày 06/8/2024, bà Dư Thị Kim P1 còn nợ E số tiền 1.891.451.621 đồng trong đó: vốn gốc: 1.782.900.000 đồng, lãi trong hạn: 79.974.605 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.264.401 đồng, lãi quá hạn 1.070.116 đồng và phí phạt trả nợ trước hạn: 26.242.500đ.
[2.2] Qua xem xét yêu cầu của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy ký Hợp đồng tín dụng số LAV220002728/1502 ngày 12/01/2022 giữa E với bà Dư Thị Kim P1 được ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với Điều 17 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Ngân hàng N ban hành và Luật tổ chức tín dụng năm 2010 cho nên hợp đồng tín dụng trên có giá trị pháp lý. Việc bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả vốn, lãi theo hợp đồng là vi phạm thỏa thuận đã giao kết theo Điều 11 trong hợp đồng nên phải chịu hậu quả theo giao kết giữa hai bên, hơn nữa trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không thể hiện ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập cũng như có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy đương sự đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã làm ảnh hưởng đền quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn gốc: 1.782.900.000 đồng còn nợ là có cơ sở và phù hợp với qui định pháp luật nên được chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký là gây ảnh hưởng đến Ngân hàng nên Ngân hàng căn cứ vào Điều 3 của hợp đồng để yêu cầu tính lãi là có cơ sở phù hợp khoản 2 Điều 91, Điều 94, Điều 95 và điểm b khoản 2 Điều 118 Luật tổ chức tín dụng nên được chấp nhận. Tiền lãi tạm tính đến hết ngày 06/8/2024 là 108.551.622 đồng, trong đó lãi trong hạn: 79.974.605 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.264.401 đồng, lãi quá hạn 1.070.116 đồng và phí phạt trả nợ trước hạn: 26.242.500đ.
[2.4] Như vậy, tổng cộng số tiền vốn và lãi mà Dư Thị Kim P1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP X số tiền tạm tính đến ngày 06/8/2024 là 1.891.451.621 đồng, bao gồm vốn gốc: 1.782.900.000 đồng và 108.551.622 đồng nợ lãi và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng
tín dụng số LAV220002728/1502 ngày 12/01/2022 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
[3] Đối với Hợp đồng thế chấp số 07/2022/EIBAG/TDCN – TCTS ngày 12/01/2022, thế chấp bất động sản như sau: Căn nhà diện tích 55,2m² và quyền sử dụng đất ODT diện tích đất 36,8m² (Thửa đất số 71; tờ bản đồ số 28) tọa lạc đường C, phường M, TP ., An Giang, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L vào ngày 12/01/2022. Hợp đồng này được hai bên ký kết là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Trường hợp bà Dư Thị Kim P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP X do E - Chi nhánh A1 đại diện có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Dư Thị Kim P1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số: 07/2022/EIBAG/TDCN-TCTS ngày 12/01/2022 là phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA 828217 (vào sổ số CH04760) cấp ngày 26 tháng 4 năm 2021 loại đất ở tại đô thị, diện tích: 36.8m², thửa đất số 71, tờ bản đồ số 28 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc D và đã được Văn P2 đăng ký đất đai chi nhánh L ghi chú nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý vào ngày 08/7/2021 cho bà Dư Thị Kim P1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn là bà Dư Thị Kim P1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.
[5] Về chi phí tố tụng:
Bà Dư Thị Kim P1 phải chịu 600.000đồng (sáu trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Do cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X đã nộp 600.000đồng (sáu trăm nghìn đồng) tạm ứng chí phí xem xét thẩm định tại chỗ nên bà Dư Thị Kim P1 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (do Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh A1 đại diện nhận) 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179; Điều 157; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Điều 317, Điều 318, Điều 319; Điều 320, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức Tín dụng năm 2010.
Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần X.
Buộc bà Dư Thị Kim P1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (do Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh A1 đại diện nhận) số tiền tạm tính đến ngày 06/8/2024 là tiền 1.891.451.621 đồng trong đó: vốn gốc: 1.782.900.000 đồng, lãi trong hạn: 79.974.605 đồng, lãi phạt chậm trả lãi: 1.264.401 đồng, lãi quá hạn 1.070.116 đồng và phí phạt trả nợ trước hạn: 26.242.500₫.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (06/8/2024), bà Dư Thị Kim P1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bà Dư Thị Kim P1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP X do E - Chi nhánh A1 đại diện có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của bà Dư Thị Kim P1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số: 07/2022/EIBAG/TDCN-TCTS ngày 12/01/2022 là phần đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA 828217 (vào sổ số CH04760) cấp ngày 26 tháng 4 năm 2021 loại đất ở tại đô thị, diện tích: 36.8m², thửa đất số 71, tờ bản đồ số 28 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng là 25.2m², diện tích sàn là 55,2m², cấp (hạng): 2.2 do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc D và đã được Văn P2 đăng ký đất đai chi nhánh L ghi chú nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý vào ngày 08/7/2021 cho bà Dư Thị Kim P1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
[2] Về án phí:
Bà Dư Thị Kim P1 phải chịu 68.743.549 (sáu mươi tám triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (do Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh A1 đại diện nhận) số tiền 33.405.000đồng (ba mươi ba triệu bốn trăm lẻ năm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002106 ngày 23/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
[3] Về chi phí tố tụng:
Bà Dư Thị Kim P1 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X (do Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh A1 đại diện nhận) số tiền 600.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
[4] Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Đức Anh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Đức Anh |
|
Bản án số 248/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 248/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Eximbank kiện Dư Thị Kim P
