|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc — |
|
Bản án số: 248/2023/HS-ST Ngày 05-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm;
Ông Lê Thành Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 211/2023/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2023 theo Quyết đinh đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2023/QĐST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Như T, sinh năm 1996 tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn TĐ, xã TS, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Như M, sinh năm 1963 và bà Phan Thị S, sinh năm 1965; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1988, nhỏ là bị cáo;
Tiền án:
- - Ngày 30/6/2020, Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Như T 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 07/6/2020 theo Bản án số 29/2020/HSST. T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/02/2021 và đóng án phí;
- - Ngày 25/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt Nguyễn Như T 18 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 03, 04/9/2021 (tài sản chiếm đoạt mỗi ngày trị giá dưới 2.000.000 đồng) theo Bản án số 109/2021/HS-ST. T đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2023 và đóng án phí;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối vối Nguyễn Như T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, T đã chấp hành xong quyết định ngày 12/9/2018.
Ngày 10/4/2023, bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: Ấp PL, xã PH, huyện An Phú, tỉnh An Giang; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ HT, ấp L, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1997; địa chỉ thường trú: Xóm MT, xã TM, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; địa chỉ tạm trú: Đường NT, phường ĐH, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 4/2023, Nguyễn Như T từ quê tại tỉnh Nghệ An đến ở nhờ nhà người thân thuộc khu vực thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để đi làm thuê. Sau đó, người thân của T nhờ Nguyễn Văn D cho T cùng đi bốc vác thuê thì D đồng ý.
Khoảng 05 giờ ngày 10/4/2023, D điều khiển xe mô tô hiệu Exciter 150, biển số 37E1–827.95 chở T đi từ thành phố Dĩ An đến công trình xây dựng thuộc khu vực huyện Dầu Tiếng để bốc hàng cốt pha, giàn giáo. Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi bốc hàng, D điều khiển xe mô tô biển số 37E1–827.95 chở T về lại thành phố Dĩ An. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, D chở T ghé vào quán ăn không tên cạnh đường DT744 thuộc ấp AT, xã AT, thị xã Bến Cát để ăn sáng. Khi đến quán, T bước xuống xe đi vào trước, còn D tìm chỗ dựng xe mô tô. Khi đi vào ngang qua xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 68G1-615.09 của bà Phạm Thị N dựng phía trước quán thì T nhìn thấy bên trong hộc phía trước bên trái của xe có để 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galxy A03S. Lúc này, T nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại của bà N nên lén lút lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, rồi nhanh chóng đi lại chỗ D đang dựng xe mô tô nói với D “về không ăn nữa”. D nghĩ T vào quán thấy đồ ăn bán không ngon nên D không hỏi gì thêm mà dắt xe mô tô biển số 37E1–827.95 ra và chở T đi về Dĩ An.
Sau khi D chở T đi được khoảng 01 km thì T nói với D “vừa lấy được điện thoại trong quán”, D hỏi T “sao mày lấy điện thoại người ta”, T nói “lỡ lấy rồi”. Lúc này, D không nói gì nhưng có ý định trên đường về Dĩ An ngang qua trụ sở Công an sẽ chở T vào trình báo.
Về phía bà N, sau khi nhìn thấy D điều khiển xe mô tô chở T rời khỏi quán ăn, bà N nghĩ đến việc mình vẫn để điện thoại ở hộc phía trước xe mô tô biển số 68G1-615.09 nên chạy ra xem thì phát hiện bị mất điện thoại. Bà N nghĩ D và T vừa chạy xe đi là người lấy trộm điện thoại nên truy hô và điều khiển xe mô tô đuổi theo. Cùng lúc này, lực lượng Công an xã PA đang đi tuần tra nghe thấy sự việc nên tiến hành truy đuổi đến đoạn ngã tư CM thuộc khu phố X8, phường TA, thành phố Thủ Dầu Một (cách nơi T lấy trộm điện thoại khoảng 05km) thì bắt giữ được T.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S;
- - Xe mô tô hiệu Exciter 150, biển số 37E1–827.95.
Theo Kết luận định giá tài sản số 47/KL ngày 14/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A03S trị giá 3.250.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 243/CT-VKSBC ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố bị cáo Nguyễn Như T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và nội dung bản Cáo trạng số 243/CT-VKSBC ngày 25 tháng 10 năm 2023.
Tại phần tranh luận:
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát theo Cáo trạng số 243/CT-VKSBC ngày 25 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Như T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Như T từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) tháng tù.
- - Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát truy tố và đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Như T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 10/4/2023 tại quán ăn không tên cạnh đường DT744 thuộc ấp AT, xã AT, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Như T đã có hành vi lén lút lấy trộm điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S trị giá 3.250.000 đồng của bà Phạm Thị N thì bị lực lượng Công an truy đuổi theo bắt giữ.
Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 243/CT-VKSBC ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tính chất: Bị cáo lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại đã lén lút chiếm đoạt là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe tốt, có đủ điều kiện nuôi sống bản thân nhưng vì bản chất tham lam, lười lao động nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và tài sản bị chiếm đoạt được thu hồi giao trả cho bị hại nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tiền án: 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản năm 2020 và 01 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản năm 2021 chưa được xoá án tích. Tiền án về tội trộm cắp tài sản năm 2020 đã áp dụng làm tình tiết định tội cho tiền án tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản năm 2021. Do đó, không áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” đối với bị cáo trong vụ án này mà chỉ áp dụng tình tiết “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về nhân thân: Năm 2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo đã chấp hành xong quyết định ngày 12/9/2018.
[4] Đối chiếu với những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử quyết định giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật mà cũng không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Xét thấy, thời gian tạm giam đã đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Vì vậy, không cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng mức hình phạt tù bằng với thời gian bị cáo đã bị tạm giam, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm khác.
[5] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03S. Đây là tài sản hợp pháp của bị hại nên Cơ quan điều tra giao trả điện thoại nêu trên cho bị hại bà N là có căn cứ. Bị hại không yêu cầu giải quyết gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Exciter 150, biển số 37E1–827.95. Xe này là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn D, D làm phương tiện chở bị cáo cùng đi làm. Sau đó, bị cáo T tự ý trộm cắp tài sản của người khác, D không biết nên Cơ quan điều tra giao trả xe nêu trên cho Nguyễn Văn D là phù hợp.
[6] Đối với Nguyễn Văn D, trên đường về được bị cáo T nói cho biết đã trộm cắp được 01 điện thoại di động nhưng D không nhìn thấy được điện thoại do bị cáo T trộm cắp, cả D và T không có bàn bạc, thỏa thuận hay hứa hẹn gì với nhau trước và sau khi T thực hiện hành vi trộm cắp. Do đó, hành vi của D chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Như T 07 (bảy) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù, thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2023 đến ngày 05/12/2023.
Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Như T ngay tại phiên toà nếu bị cáo Nguyễn Như T không bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm khác.
2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Như T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 248/2023/HS-ST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 248/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. 1. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Nguyễn Như T 07 (bảy) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù, thời hạn tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2023 đến ngày 05/12/2023. Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Như T ngay tại phiên toà nếu bị cáo Nguyễn Như T không bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm khác. 2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. 4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Như T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
