Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 248/2024/HS-ST

Ngày: 04/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Hương

Ông Nguyễn Hữu Long

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2024/QĐXXST–HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên Phan Văn V

Sinh ngày 30 tháng 6 năm 1999; Tại: Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn B và con bà Lê Thị H. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 21/7/2020 bị Công an phường T, thành phố B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 16/4/2024 cho đến nay, hiện đang giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B.

– Bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị D

Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

2. Ông Lê Quang T – sinh năm 1996

Địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

3. Ông Mai T1

Địa chỉ: 3 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Kim C

Địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Quốc V1

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

3. Ông Tống Văn T2

Địa chỉ: A L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

4. Ông Ngô Quốc V2

Địa chỉ: B L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

5. Bà Phan Thị Đông

Địa chỉ: 221 L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

6. Ông Nguyễn Văn Đ

Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt)

7. Bà Trần Thị Bích T3

Địa chỉ: A Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

8. Ông Đặng Công C1

Địa chỉ: 2 L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

9. Ông Võ Đình D1

Địa chỉ: Thôn F, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

10. Ông Văn Q

Địa chỉ: Thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

11. Bà Nguyễn Thị Ngọc T4

Địa chỉ: 1 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

12. Ông Nguyễn Lê Đình V3

Địa chỉ: Thôn C,x ã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

13. Ông Phan Hồ Văn

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

14. Ông Võ Minh H1

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt)

15. Ông Phạm Ngọc H2

Địa chỉ: 2 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt)

16. Ông Phan Văn B

Địa chỉ: Thôn D, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn V, sinh năm: 1999, trú tại: Thôn D, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, có mối quan hệ quen biết với chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm: 1999, trú tại: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình quen biết, V biết anh Lê Quang T, sinh năm: 1996, trú tại: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (là anh rể của chị C) có 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda SH, biển số 47B2–596.68 nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 47B2–596.68 của anh T mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể:

Ngày 15/5/2023, V đến nhà anh T, ở địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, V nói dối anh T cho V mượn xe mô tô biển số 47B2–596.68 đi Đà Nẵng chơi, thì anh T tưởng là thật nên đồng ý cho V mượn xe mô tô biển số 47B2–596.68 cùng giấy tờ xe. Sau khi được anh T giao xe mô tô biển số 47B2–596.68 thì V điều khiển xe mô tô biển số 47B2–596.68 đến tiệm cầm đồ Vương 24/7 của anh Nguyễn Quốc V1, tại địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, để hỏi cầm cố xe mô tô biển số 47B2–596.68. Do không biết đây là tài sản phạm tội mà có nên anh V1 đã đồng ý cầm cố xe mô tô biển số 47B2–596.68 với số tiền 50.000.000 đồng. Viễn lấy tiền sử dụng để trả nợ cho anh Nguyễn Lê Đình V3 và anh Phan Hồ V4, trú tại: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện bị V chiếm đoạt tài sản, anh T đã làm đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý. Ngày 27/02/2024, anh V1 đã tự nguyện giao nộp xe mô tô biển số 47B2–596.68 để phục vụ công tác điều tra (BL: 80; 81–83; 251–252; 264–266)

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 55/KL–HĐĐGTS ngày 10/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe SH125, màu sơn trắng đen, biển số 47B2–596.68, trị giá: 90.000.000 đồng (BL: 32–33).

Ngoài ra, trong quá trình điều tra gia đình anh T tố cáo V còn trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị D và anh Mai T1, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Ngày 17/5/2023, V đến nhà anh T, ở địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, thì phát hiện xe mô tô biển số 47M1–411.06 của chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1995, trú tại: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (là chị gái của C), để ở trong nhà, có sẵn chìa khóa nên V nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô biển số 47M1–411.06 của chị D mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuy nhiên, V biết xe mô tô biển số 47M1–411.06 của chị D không có giấy chứng

nhận đăng ký xe, không cầm cố được nên V đã nảy sinh ý định hỏi mượn xe mô tô biển số 47P9–6828 của chị Nguyễn Thị Kim C đi cầm cố trước, rồi sẽ trộm cắp xe mô tô của chị D mang xuống tiệm cầm đồ đổi lấy xe mô tô của chị C nhằm mục đích để cầm cố xe mô tô của chị D. Lúc này, V liên hệ chị C để hỏi mượn xe mô tô biển số 47P9–6828 mang đi cầm cố, thì chị C đồng ý. Viễn điều khiển xe mô tô biển số 47P9–6828 đến tiệm cầm đồ Vương 24/7, địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, do anh Nguyễn Quốc V1 làm chủ cầm cố với số tiền 12.000.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, V đi về nhà anh T thì thấy không có ai ở nhà nên đã lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 47M1–411.06 của chị D, rồi điều khiển xe mô tô biển số 47M1–411.06 đến tiệm cầm đồ Vương 24/7. Tại đây, V nói anh V1 cho đổi xe mô tô biển số 47M1–411.06 của chị D để lấy xe mô tô biển số 47P9–6828 của chị C về có việc. Do không biết xe mô tô biển số 47M1–411.06 là tài sản do V trộm cắp mà có nên anh V1 đồng ý cho V đổi lấy xe mô tô biển số 47P9–6828. Đến ngày 19/5/2023, V trả lại xe mô tô biển số 47P9–6828 cho chị C quản lý, sử dụng. Sau khi phát hiện bị V chiếm đoạt xe mô tô biển số 47M1–411.06, chị D đã làm đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý. Ngày 27/02/2024, anh V1 đã tự nguyện giao nộp xe mô tô biển số 47M1-411.06 để phục vụ công tác điều tra (BL: 101–102; 119-120).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 55/KL–HĐĐGTS ngày 10/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Piaggio Vespa, màu đen, biển số 47M1–411.06, trị giá: 36.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Ngày 20/5/2023, V đến nhà anh T, ở địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, thì phát hiện xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, biển số 47B1–797.47 của anh Mai T1, trú tại: 3 N, phường T, thành phố B (là bạn của anh T đang gửi nhờ nhà anh T) trên xe có sẵn chìa khóa, trong cốp xe có để 01 giấy đăng ký xe mang tên Mai T1 nên nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 47B1–797.47 nên đã đi đến lén lút trộm cắp xe mô tô biển số 47B1–797.47 rồi tẩu thoát. Sau khi trộm cắp được xe mô tô biển số 47B1–797.47, do đã quen biết với anh Tống Văn T2, là chủ tiệm cầm đồ tại địa chỉ: A L, phường T, thành phố B nên V đi đến gặp anh T2 hỏi mượn số tiền 10.000.000 đồng và để lại xe mô tô biển số 47B1-797.47, kèm đăng ký xe mang tên Mai T1 và 01 điện thoại hiệu Iphone X, màu trắng để làm tin. Do không biết xe mô tô biển số 47B1–797.47 là tài sản trộm cắp mà có nên anh T2 đồng ý cho V mượn số tiền 10.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 7/2023, anh T2 liên hệ V để yêu cầu trả nợ, thì V nói anh T2 không có khả năng trả nợ và đề nghị anh T2 bán xe mô tô biển số 47B1–797.47 để thu hồi nợ, thì anh T2 đồng ý. Sau đó, anh T2 bán xe mô tô biển số 47B1–797.47 cho anh Ngô Quốc V2, trú tại: phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, với số tiền 10.500.000 đồng. Sau khi phát hiện bị V chiếm đoạt xe mô tô biển số 47M1–411.06, anh T1 đã làm đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý (BL: 115; 116).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 55/KL-HĐĐGTS ngày 10/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô

tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng biển số 47B1–797.47, trị giá: 11.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định, tháng 7/2023 anh Ngô Quốc V2 bán xe mô tô biển số 47B1–797.47 cho chị Phan Thị Đ1, trú tại: B L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, với số tiền 12.000.000 đồng và đưa cho chị Đ1 01 đăng ký xe mô tô, gắn máy biển số 47B1–797.47 mang tên Mai T1. Đến ngày 15/7/2023, chị Đ1 bán xe mô tô biển số 47B1–797.47 cho anh Nguyễn Văn Đ, trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, với số tiền 16.500.000 đồng, anh Đ nhờ chị Đ làm thủ tục chuyển quyền sở hữu xe mô tô biển số 47B1–797.47. Sau đó, Chị Đ nhờ bà Trần Thị Bích T3, trú tại: A Q, phường T, thành phố B, làm thủ tục chuyển quyền sở hữu xe mô tô biển số 47B1–797.47 từ anh Mai T1 sang tên anh Nguyễn Văn Đ thì bà T3 đồng ý và nhờ ông Phạm Ngọc H2, trú tại: 2 L, phường T, thành phố B, làm giúp 01 giấy ủy quyền làm thủ tục thu hồi đăng ký, biển số xe đối với chiếc xe mô tô biển số 47B1–797.47 từ người ủy quyền là anh Mai T1, người được ủy quyền là bà Trần Thị Bích T3 và 01 hợp đồng mua bán xe mô tô với nội dung anh Mai T1 bán cho anh Nguyễn Văn Đ xe mô tô biển số 47B1–797.47. Sau khi có giấy ủy quyền và hợp đồng mua bán xe mô tô, bà T3 giả mạo chữ ký của anh Mai T1 và anh Nguyễn Văn Đ vào giấy ủy quyền và hợp đồng mua bán xe mô tô, rồi đưa các tài liệu gồm 01 giấy ủy quyền và 01 hợp đồng mua bán xe mô tô giả cho ông Đặng Công C1 (là người làm dịch vụ công chứng hộ), trú tại: 2 L, phường E, thành phố B nhờ ông C1 làm thủ tục công chứng, thì ông C1 đồng ý. Sau đó, ông C1 đến Ủy ban nhân dân xã H, thành phố B, gặp ông Võ Đình D1, trú tại: Thôn F, xã H, thành phố B (là cán bộ tư pháp của Ủy ban nhân dân xã H) và ông Văn Q, trú tại: Thôn B, xã H, thành phố B (là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H) làm thủ tục chứng thực giấy ủy quyền và hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 47B1–797.47. Sau khi nhận được bản công chứng giấy ủy quyền và hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 47B1–797.47, bà T3 đã làm thủ tục thu hồi chứng nhận nhận đăng ký, biển số xe, rồi nhờ bà Nguyễn Thị Ngọc T4, trú tại: 0 N, phường T, thành phố B, làm thủ tục cấp mới biển số xe đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter. Ngày 28/9/2023, Công an xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã cấp mới biển số xe Yamaha Exciter, màu sơn xanh trắng, biển số 47M1–987.62, tên chủ xe là Nguyễn Văn Đ (BL: 189-190; 192; 194–195; 205–207; 225–227; 228–229; 230–231; 232-233; 234-235; 235a-235b; 235c-235d).

Tại bản kết luận giám định số 373/KL-KTHS ngày 28/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

  • – 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số khung RLHJF2908AY000963, số máy: JF14E*5000942*KTFE1, không thay đổi, biển số: 47B2–596.68 là biển số thật.
  • – 01 xe mô tô hiệu PIAGGIO, số khung: RP8M82211FV008236, số máy: M828M5009030, không thay đổi, biển số 47M1–411.06 là biển số thật.
  • – 01 xe mô tô hiệu Yamaha, số khung: RLCE55P10EY366214, số máy: 55p1–366229, không thay đổi, biển số 47M1–987.62 là biển số thật (BL: 43-44).

Tại bản kết luận giám định số 512/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

  1. Chữ ký dưới mục “CHỦ XE” trên 01 giấy khai đăng ký xe, mã hồ sơ trực tuyến G01.308.000.000–230918–05821, đề ngày 20 tháng 9 năm 2023, chủ xe mang tên Nguyễn Văn Đ (tài liệu cần giám định ký hiệu A1); Chữ ký mang tên Nguyễn Văn Đ dưới mục “BÊN B” tại 02 hợp đồng mua bán xe, bên bán mang tên Mai T1, bên mua mang tên Nguyễn Văn Đ, chứng thực ngày 29/8/2023 (tài liệu giám định ký hiệu A2, A3) khác dạng so với chữ ký mang tên Nguyễn Văn Đ tại Biên bản làm việc V/v thu mẫu chữ ký Nguyễn Văn Đ, đề ngày 18 tháng 3 năm 2024 (tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1) nên không tiến hành giám định.
  2. Chữ ký mang tên Nguyễn Văn Đ dưới mục “BÊN B” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3 so với chữ viết mang tên Nguyễn Văn Đ trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, không phải do cùng một người viết ra.
  3. Chữ ký mang tên “MAI THẮNG” dưới mục “BÊN A” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3; Chữ ký dưới mục “CHỦ XE” trên 01 giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe, mã hồ sơ trực tuyến G01.308.000.000.230830.07367, đề ngày 21 tháng 8 năm 2023, chủ xe mang tên Mai T1 (tài liệu cần giám định ký hiệu A4); Chữ ký dưới mục người ủy quyền trên 01 giấy ủy quyền, người ủy quyền mang tên Mai T1, người được ủy quyền mang tên Trần Thị Bích T3, chứng thực ngày 29 tháng 8 năm 2023 (tài liệu cần giám định ký hiệu A5) khác dạng so với chữ ký mang tên Mai T1 tại 01 Biên bản làm việc V/v thu mẫu chữ ký M, đề ngày 30 tháng 3 năm 2024 (tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2), nên không tiến hành giám định.
  4. Chữ ký mang tên Mai T1 dưới mục “BÊN A” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A2, A3; Dưới mục “CHỦ XE” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4; Dưới mục người ủy quyền trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 so với chữ viết mang tên Mai Thắng trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2, không phải do cùng một người viết ra (BL: 49–50).

Tại bản cáo trạng số: 247/CT-VKS HS ngày 09/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, đã truy tố Phan Văn V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS;

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn V mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn V mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của 2 tội là 02 năm 09 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 586 Bộ luật dân sự.

Quá trình điều tra, các bị hại anh Lê Quang T, chị Nguyễn Thị D và anh Mai T1 không yêu cầu bị cáo Phan Văn V bồi thường gì nên không đề cập xử lý là phù hợp (BL: 94–95 115–116).

Bị cáo Phan Văn V đã tác động gia đình tự nguyện hoàn trả cho anh Nguyễn Quốc V1 số tiền 77.000.000 đồng (là tiền anh V1 bỏ ra nhận cầm cố xe mô tô biển 47B2–596.68 và xe mô tô biển số 47M1–411.06 từ bị cáo V) và hoàn trả cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 16.500.000 đồng (là tiền anh Đ bỏ ra mua chiếc xe mô tô biển số 47B1–797.47) (BL: 279; 280).

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định, xe mô tô hiệu Honda, loại xe SH125, màu sơn trắng đen, biển số 47B2–596.68, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, xe máy số 058521 là tài sản của anh Lê Quang T và 01 xe mô tô hiệu Piaggio Vespa, màu đen, biển số 47M1–411.06 là tài sản của chị Nguyễn Thị Diễm . Ngày 17/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho anh T và chị D nhận quản lý sử dụng là phù hợp (BL: 77–78).

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng là tài sản của anh Mai T1. Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn Đ không có yêu cầu nhận lại xe mô tô mà yêu cầu bồi thường số tiền 16.500.000 đồng (là tiền anh Đ bỏ ra để mua xe mô tô biển số 47B1–797.47 từ chị Phan Thị Đ1). Ngày 12/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho anh T1 quản lý sử dụng là phù hợp (BL: 75).

Đối với 01 biển số xe 47M1–987.62 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000271 mang tên Nguyễn Văn Đ. Quá trình điều tra xác định, quy trình công chứng, chứng thực hợp đồng ủy quyền và hợp đồng mua bán xe mô tô từ anh Mai T1 bán cho anh Nguyễn Văn Đ xe mô tô biển số 47B1–797.47 không đúng quy định, dẫn đến Công an E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã cấp mới biển số 47M1–987.62 cho xe Yamaha Exciter, màu sơn xanh trắng (của anh Mai T1) và

giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000271 biển số 47M1–987.62 mang tên Nguyễn Văn Đ, cho anh Nguyễn Văn Đ. Tại Cơ quan điều tra, anh Đ không có yêu cầu được nhận lại xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, biển số 47M1–987.62. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, đã tách 01 biển số xe 47M1–987.62 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000271 mang tên Nguyễn Văn Đ ra khỏi vụ án để giao cho Công an E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk làm thủ tục thu hồi và xử lý theo quy định là phù hợp.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Văn V không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xét thấy tại cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã có lời khai đầy đủ. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án. Do đó căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo: Vào ngày 15/5/2023, tại nhà anh Lê Quang T, địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, bị cáo Phan Văn V đã có hành vi nói dối anh T mượn xe đi Đà Nẵng chơi, nhưng sau đó bị cáo đem đi cầm lấy tiền tiêu xài, hành vi của bị cáo phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Lê Quang T 01 xe mô tô hiệu Honda SH125, màu sơn trắng đen, biển số 47B2–596.68, trị giá tài sản là 90.000.000 đồng.

Ngoài ra, ngày 17/5/2023 tại nhà của anh Lê Quang T, địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, bị cáo Phan Văn V đã lén lút trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị D 01 xe mô tô hiệu Piaggio Vespa, màu đen, biển số 47M1–411.06, trị giá 36.000.000 đồng. Ngày 20/5/2023, tại nhà của anh Lê Quang T, địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, bị cáo Phan Văn V tiếp tục lén lút trộm cắp tài sản

của anh Mai T1 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, biển số 47B1-797.47, trị giá 11.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là 47.000.000 đồng.

Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Phan Văn V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ 02 năm đến 07 năm tù:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.”

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo Phan Văn V gây ra là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hiểu biết quy định của pháp luật. Tuy nhiên do ý thức coi thường pháp luật, động cơ vụ lợi, nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, và buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm nhằm mục đích giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh tuyên truyền giáo dục phòng chống tội phạm nói chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước mọi hành vi phạm tội.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo V đã lén lút trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị D vào ngày 17/5/2023 và anh Mai T1 ngày 20/5/2023. Bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Tuy nhiên HĐXX xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo có ông Phan T5 là ông nội, là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét cân nhắc khi lượng hình cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.

[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự.

Quá trình điều tra, các bị hại anh Lê Quang T, chị Nguyễn Thị D và anh Mai T1 không yêu cầu bị cáo Phan Văn V bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Phan Văn V đã tác động gia đình tự nguyện trả cho anh Nguyễn Quốc V1 số tiền 77.000.000 đồng (là tiền anh V1 bỏ ra nhận cầm cố xe mô tô biển 47B2–596.68 và xe mô tô biển số 47M1–411.06 từ bị cáo V) và trả cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 16.500.000 đồng (là tiền anh Đ bỏ ra mua chiếc xe mô tô biển số 47B1–797.47. Anh V1, anh Đ đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thường thêm.

[2.4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự

Quá trình điều tra xác định, xe mô tô hiệu Honda, loại xe SH125, màu sơn trắng đen, biển số 47B2–596.68, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, xe máy số 058521 là tài sản của anh Lê Quang T và 01 xe mô tô hiệu Piaggio Vespa, màu đen, biển số 47M1–411.06 là tài sản của chị Nguyễn Thị Diễm . Ngày 17/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho anh T và chị D nhận quản lý sử dụng là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng là tài sản của anh Mai T1. Quá trình điều tra, anh Nguyễn Văn Đ không có yêu cầu nhận lại xe mô tô mà yêu cầu bồi thường số tiền 16.500.000 đồng (là tiền anh Đ bỏ ra để mua xe mô tô biển số 47B1–797.47 từ chị Phan Thị Đ1). Ngày 12/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho anh T1 quản lý sử dụng là phù hợp.

Đối với 01 biển số xe 47M1–987.62 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000271 mang tên Nguyễn Văn Đ. Quá trình điều tra xác định, quy trình công chứng, chứng thực hợp đồng ủy quyền và hợp đồng mua bán xe mô tô từ anh Mai T1 bán cho anh Nguyễn Văn Đ xe mô tô biển số 47B1–797.47 không đúng quy định, dẫn đến Công an E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, đã cấp mới biển số 47M1–987.62 cho xe Yamaha Exciter, màu sơn xanh trắng (của anh Mai T1) và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000271 biển số 47M1–987.62 mang tên Nguyễn Văn Đ, cho anh Nguyễn Văn Đ. Tại Cơ quan điều tra, anh Đ không có yêu cầu được nhận lại xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng, biển số 47M1–987.62. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, đã tách 01 biển số xe 47M1–987.62 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 47000271 mang tên Nguyễn Văn Đ ra khỏi vụ án để giao cho Công an E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk làm thủ tục thu hồi và xử lý theo quy định là phù hợp.

[2.5] Đối với hành vi của bị cáo Phan Văn V mượn xe mô tô hiệu Honda AirBlade, biển số 47P9–6828 của chị Nguyễn Thị Kim C rồi mang đi cầm cố cho anh Nguyễn Quốc V1, sau đó bị cáo V đã lấy lại xe trả lại cho chị C quản lý sử dụng. Quá trình điều tra xác định, chị C2 đồng ý cho V mang xe mô tô biển số 47P9–6828 đi cầm cố, V không có ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị C nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi của anh Nguyễn Quốc V1 nhận cầm cố tài sản không chính chủ gồm xe mô tô biển số 47B2–596.68 và xe mô tô biển số 47M1–411.06 của bị cáo Phan Văn V nhưng anh V1 không biết xe mô tô là tài sản do bị cáo V phạm tội mà có. Hành vi của anh V1 vi phạm quy định tại điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, căn cứ khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính đến nay đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với ông Tống Văn T2, ông Nguyễn Văn Q1, bà Phan Thị Đ1 và anh Nguyễn Văn Đ là những người mua bán xe mô tô biển số 47B1–797.47, tuy nhiên không biết xe mô tô là tài sản do bị cáo Phan Văn V phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý, là phù hợp.

Đối với hành vi của bà Trần Thị Bích T3 giả chữ ký trong hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 47B1–797.47 nhằm mục đích hưởng lợi từ việc chuyển nhượng quyền sở hữu xe, không có ý định chiếm đoạt xe mô tô biển số 47B1–797.47, không có dấu hiệu tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với ông Võ Đình D1 và ông Văn Q, là người ký chứng thực hợp đồng mua bán xe mô tô biển số 47B1–797.47 và giấy ủy quyền, không đúng quy định theo Luật Công chứng năm 2014, có hành vi chứng thực chữ ký trong trường hợp người yêu cầu chứng thực không ký trước mặt người thực hiện chứng thực hoặc không ký trước mặt người tiếp nhận hồ sơ chứng thực chữ ký, vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị định 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã. Ngày 12/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ban hành công văn gửi Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk, đề nghị xử lý hành chính đối với ông D1 và ông Q theo quy định, là phù hợp.

Quá trình điều tra bị cáo Phan Văn V khai nhận, sau khi cầm cố xe mô tô biển số 47B2–596.68 chiếm đoạt của anh Lê Quang T, bị cáo V sử dụng tiền để

trả nợ cho anh Nguyễn Lê Đình V3 và anh Phan Hồ V4, trú tại: Thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, V không nói cho anh V3 và anh V4 biết về việc V thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành xác minh tại thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk xác định hiện nay anh V3 và anh V4 không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B quyết định tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh, làm rõ sau là phù hợp.

[2.6] Về án phí: Bị cáo Phan Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Văn V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn V 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn V 09 (chín) tháng tù.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 2 tội là 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt (ngày 16/4/2024).

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quang T6, Mai T1, Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu bị cáo Phan Văn V bồi thường.

Ghi nhận sự tự nguyện giữa bị cáo Phan Văn V đã tác động gia đình tự nguyện trả cho anh Nguyễn Quốc V1 số tiền 77.000.000 đồng. Anh Nguyễn Quốc V1 đã nhận và không yêu cầu bồi thường thêm.

Ghi nhận sự tự nguyện giữa bị cáo Phan Văn V đã tác động gia đình tự nguyện trả cho anh Nguyễn Văn Đ số tiền 16.500.000 đồng. Anh Nguyễn Văn Đ đã nhận và không yêu cầu bồi thường thêm.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự

Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B ra quyết định xử lý vật chứng trao trả: xe mô tô hiệu Honda, loại xe SH125, màu sơn trắng đen, biển số 47B2–596.68, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, xe máy số 058521 cho anh Lê Quang T; và 01 xe mô tô hiệu Piaggio Vespa, màu đen, biển số

47M1–411.06 cho chị Nguyễn Thị D; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng cho anh Mai T1.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • – Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Công an thành phố Buôn Ma Thuột;
  • – Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • – Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 248/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan văn V phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger