Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 248/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-7-2024

V/v Ly hôn.

—————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Bích Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Triều;
  2. Ông Nguyễn Thành Châu.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (số B đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 375/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3194/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1988
  • Địa chỉ: số D A, Shindobachou O H, J.
  • - Bị đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1992
  • Địa chỉ: số D đường B, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • (Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/9/2023 (đã được Đại sứ quán nước Cộng hòa X tại Nhật Bản chứng nhận ngày 29/9/2023), nguyên đơn – ông Phạm Văn T trình bày:

Năm 2019, ông T tự nguyện kết hôn với bà Dương Thị H và đăng ký tại Sở hành chính Thành phố N, tỉnh Aichi, Nhật Bản ngày 21/10/2019; sau đó cả hai đã thực hiện ghi chú kết hôn tại X tại Nhật Bản (theo Giấy trích lục ghi chú kết hôn số 930/Q19-2019/TLGCKH ngày 07/11/2019).

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, sau đó bà H trở về Việt Nam sinh sống và làm việc, không trở lại N nữa.

Ông T cho rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa ông và bà H đã quá trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ngày 13/01/2024 và trong quá trình tố tụng, bị đơn – bà Dương Thị H trình bày:

Bà và ông Phạm Văn T kết hôn năm 2019 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được gia đình hai bên đồng ý, sau đó cả hai đăng ký kết hôn tại Sở hành chính Thành phố N, tỉnh Aichi, Nhật Bản ngày 21/10/2019; đến ngày 07/11/2019, bà và ông T đã thực hiện ghi chú kết hôn tại X tại Nhật Bản (theo Giấy trích lục ghi chú kết hôn số 930/Q19-2019/TLGCKH).

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 03 tháng thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi nhau nguyên nhân do cả hai không hòa hợp về tính tình, quan điểm, phong cách sống và cách tiêu xài tiền; cuối năm 2019, bà đã trở về Việt Nam sinh sống và ở lại Việt Nam luôn từ thời gian đó cho đến nay.

Bà H xác định không còn tình cảm đối với ông T nên đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Quan hệ tranh chấp giữa ông Phạm Văn T và bà Dương Thị H là Ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có nơi cư trú tại Nhật Bản, bị đơn có nơi cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình tố tụng, sau khi cung cấp lời khai và trình bày ý kiến, nguyên đơn – ông Phạm Văn T và bị đơn – bà Dương Thị H đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử nhận thấy việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa không gây ảnh hưởng hoặc làm thay đổi nội dung vụ án đồng thời phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên chấp nhận.

[2]. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ Giấy trích lục ghi chú kết hôn số 930/Q19-2019/TLGCKH ngày 07/11/2019 của X tại Nhật Bản thì quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Văn T và bà Dương Thị H là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của nguyên đơn - ông Phạm Văn T và bị đơn - bà Dương Thị H thì sau khi kết hôn vợ chồng chỉ sống chung với nhau được khoảng thời gian rất ngắn, sau đó do cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên bà H về Việt Nam sinh sống và làm việc từ cuối tháng 12 năm 2019 đến nay, không trở lại Nhật Bản.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Hiện ông T và bà H mỗi người đang sinh sống và làm việc ở một đất nước khác nhau nên khó có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả ông T và bà H đều đồng ý ly hôn để ổn định cuộc sống riêng.

Xét thấy: Cuộc sống chung giữa ông T và bà H không thể kéo dài, việc ly hôn là cần thiết, là nguyện vọng chính đáng đồng thời phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Ông T và bà H khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà H khai không có và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn – ông Phạm Văn T phải chịu án phí sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn – ông Phạm Văn T.
    • Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn T được ly hôn với bà Dương Thị H.
    • Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Phạm Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0001257 ngày 26/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T không phải nộp thêm án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Ông Phạm Văn T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Bà Dương Thị H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - Cục THA dân sự Tp.HCM;
  • - Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Bích Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2024/HNGĐ-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 248/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Tr
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger