|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 244/2023/HS-ST Ngày 27/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phí Thị Thanh Huyền;
- Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị L - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 227/2023/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 233/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị K, sinh ngày 25/5/1994 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Duy K1 và bà Đoàn Thị T; chồng: Phạm Đặng D, có 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
* Người làm chứng:
- - Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Đường H, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- - Bảo hiểm Xã hội tỉnh Thái Bình; Địa chỉ: Đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- - Công ty TNHH T; Địa chỉ: Khu công nghiệp, xã X, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- - Chị Lê Thị Thùy D, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/3/2023, Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình tiếp nhận hồ sơ đề nghị thanh toán chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe của Công ty trách nhiệm hữu hạn T đề nghị thanh toán chế độ bảo hiểm cho 106 lượt người lao động nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm đợt 03 tháng 3/2023. Trong quá trình rà soát, đối chiếu hồ sơ để giải quyết, phát hiện 01 Giấy ra viện ghi Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình cấp ngày 13/02/2023, cho người bệnh: Nguyễn Thị K, sinh ngày 25/5/1994, địa chỉ: Xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào viện ngày 08/02/2023, ra viện ngày 13/02/2023, chuẩn đoán viêm phổi cấp. Sau khi kiểm tra rà soát đối chiếu dữ liệu thì thấy: Mẫu giấy ra viện không đúng với mẫu của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đang lưu hành, chữ ký của phó giám đốc bệnh viện trên giấy ra viện không đúng với chữ ký đã đăng ký với cơ quan Bảo hiểm xã hội; Các thông tin trên Giấy ra viện không có trong lịch sử khám chữa bệnh trên Cổng tiếp nhận thông tin khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình gửi Công văn đề nghị cơ quan Điều tra làm rõ hành vi làm giả giấy tờ. Quá trình điều tra, xác minh xác định: Nguyễn Thị K làm công nhân tại tổ cắt PU1 của Công ty trách nhiệm hữu hạn T, ngày 08/02/2023 do K bị sốt vi rút nên đã báo cáo chị Lê Thị D là tổ trưởng để xin nghỉ. K biết quy định của Công ty nếu nghỉ ốm từ một đến hai ngày chỉ cần báo cáo tổ trưởng xin nghỉ, nếu nghỉ trên hai ngày phải có giấy xác nhận của cơ sở y tế, nếu không có giấy xác nhận thì sẽ bị cho là nghỉ không lý do và bị đuổi việc. Thực tế K chỉ bị ốm có hai ngày nghỉ tại nhà để điều trị, nhưng K muốn được nghỉ nhiều hơn để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và không bị đuổi việc, nên ngày 10/02/2023 K đã đi tìm hỏi mua giấy xác nhận điều trị bệnh. Khi đến khu vực Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Thái Bình thì K gặp Hoàng Thị L (trước đây có thời gian cùng làm công nhân tại công ty S) chủ cửa hàng Photocoppy Hương L. K hỏi L muốn mua Giấy giấy xác nhận điều trị bệnh của cơ sở y tế, L nói làm được và yêu cầu K cung cấp thông tin cá nhân, thẻ bảo hiểm y tế, thời gian ốm, thời gian khỏi ốm để L làm, K đồng ý và chuyển nội dung thông tin cá nhân, chụp ảnh thẻ bảo hiểm y tế gửi cho L qua tin nhắn mạng zalo, từ tài khoản “KNguyen” đăng ký số điện thoại 0972.xxx đến tài khoản “Hoàng L” đăng ký số điện thoại là 0988.xxxx. Ngày 14/02/2023, K đến cửa hàng của L để lấy giấy ra viện và trả L 150.000 đồng sau đó nộp giấy ra viện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T để Công ty lập hồ sơ gửi đến cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình làm chế độ. Đến tháng 3/2023 khi được cán bộ Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình thông báo cho biết Giấy ra viện của K nộp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn VAT ngày 14/02/2023 là giả, K đã gọi điện cho L và L nói với K xóa toàn bộ giữ liệu tin nhắn và chặn zalo không liên lạc với nhau nữa. K đã xóa toàn bộ giữ liệu tin nhắn và chặn zalo giữa K và L.
Chị Hoàng Thị L xác nhận: Có in giúp K 01 giấy ra viện do K gửi từ tài khoản zalo “KNguyen”, đăng ký số điện thoại 0972.xxxx đến tài khoản “Hoàng L”, đăng ký số điện thoại là 0988.xxxxx lấy công là 50.000 đồng. Đến tháng 3/2023 K gọi điện cho L hỏi về giấy L in cho K có giá trị pháp lý không thì L nói không có giá trị pháp lý gì. K nói giấy ra viện mà L in cho K bị Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình phát hiện là giả và K yêu cầu L xóa hết tin nhắn đã trao đổi với L nên L đã xóa hết. Còn đối với máy tính file ảnh Giấy ra viện K gửi cho L đã bị sét đánh hỏng. L không biết K in giấy để làm gì.
Tại bản Kết luận giám định số 1046/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh kết luận:
- Hình dấu tròn có nội dung: “SỞ Y TẾ TỈNH THÁI BÌNH ★ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH” trên các mẫu cần giám định ký hiệu A không phải là hình dấu được đóng trực tiếp; là hình dấu được tạo ra bằng phương pháp in laze màu.
- Chữ ký mang tên BSCKII. Lại Đức T trên mẫu cần giám định ký hiệu A không phải là chữ ký được ký trực tiếp; là chữ ký được tạo ra bằng phương pháp in laze màu.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu.
Bản cáo trạng số 235/CT-VKSTPTB ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị: Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- * Về vật chứng: Giấy ra viện giả là chứng cứ của vụ án, lưu theo hồ sơ vụ án.
- * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không bào chữa, không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên là các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và được chứng minh bằng:
- - Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; Biên bản giao nhận tài liệu đồ vật; Biên bản niêm phong tài liệu đồ vật.
- - Công văn số 742/BHXH-CĐBHXH ngày 12/5/2023 của Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình.
- - Biên bản làm việc với Công ty trách nhiệm hữu hạn T.
- - Tại bản Kết luận giám định số 1046/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an tỉnh.
- - 02 Công văn phúc đáp của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình và 01 bản phô tô Quyết định bổ nhiệm cán bộ.
- - Lời khai người làm chứng, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Biên bản đối chất.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 08/02/2023 đến ngày 13/02/2023, Nguyễn Thị K không bị ốm, không đi khám và điều trị tại cơ sở khám, chữa bệnh nào nhưng đã nhờ Hoàng Thị L in 01 Giấy ra viện của Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình với giá 50.000đồng, sau đó K nộp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T để đề nghị Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình thanh toán chế độ bảo hiểm xã hội.
Hành vi của Nguyễn Thị K đã vi phạm khoản 4 Điều 17 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014, nhưng không đủ yếu tố cấu thành tội "Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp" quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự; đã phạm vào tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Điều 17. Luật bảo hiểm xã hội năm 2014: Các hành vi bị nghiêm cấm
...
4. Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
Điều 341: Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
[3] Hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, Hội đồng xét xử xử bị cáo phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng: Giấy ra viện giả là chứng cứ của vụ án, lưu theo hồ sơ vụ án.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với hành vi của Hoàng Thị L, quá trình điều tra L khai nhận: L là chủ cửa hàng chuyên Photocopy tại đường C, phường Q, thành phố T và lấy tên cửa hàng là Hương L. Đầu tháng 2/2023 K đặt vấn đề thuê L in giấy ra viện (in màu) của K với lý do K bị mất bản gốc và K gửi file ảnh giấy ra viện cho L để L in. L đồng ý và kết bạn Zalo với K để K gửi file ảnh. K gửi từ tài khoản “KNguyen” đăng ký số điện thoại 0972.xxx đến tài khoản “Hoàng L” đăng ký số điện thoại là 0988.xxxx Giấy ra viện do Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình cấp ngày 13/02/2023, cho người bệnh: Nguyễn Thị K, sinh ngày 25/5/1994, địa chỉ: Xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào viện ngày 08/02/2023, ra viện ngày 13/02/2023, chuẩn đoán viêm phổi cấp. L vào máy tính tải file ảnh K gửi và in bằng máy photo màu một bản đưa cho K và lấy tiền công là 50.000 đồng. Đến tháng 3/2023 K gọi điện cho L hỏi về giấy L in cho K có giá trị pháp lý không thì L nói không có giá trị pháp lý gì, K nói giấy ra viện mà L in cho K bị Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình phát hiện là giả và K yêu cầu L xóa hết tin nhắn đã trao đổi với L nên L đã xóa hết. Đối với máy tính file ảnh Giấy ra viện K gửi cho L đã bị sét đánh hỏng. L không biết K in giấy để làm gì. Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi Công ty cổ phần G phối hợp cung cấp nội dung tin nhăn giữa tài khoản Zalo “K Nguyen” đăng ký số điện thoại 0972.xxx với tài khoản Zalo “HoangL” đăng ký số điện thoại 0988.xxx có khôi phục được không, nếu có đề nghị trích xuất nội dung tin nhắn ngày 10/02/2023, nhưng chưa có kết quả, nên cơ quan Điều tra đã ra quyết định tách hành vi của L để tiếp tục xác minh làm rõ, khi đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị K phạm tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị K cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Nếu bị cáo Nguyễn Thị K thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Thị K cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Giấy ra viện giả là chứng cứ của vụ án, lưu theo hồ sơ vụ án.
- Án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 28/12/2023./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Chu Thị Tuyết |
Bản án số 244/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Số bản án: 244/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị K phạm tội "Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
