Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 248/2025/HS-ST

Ngày 28/11/2025

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng

Ông Nguyễn Văn Môn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Nương - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 129/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Xuân T, sinh năm 1993.Nơi cư trú: Xóm B, xã V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Phạm Xuân N, sinh năm 1969. Mẹ: Phạm Thị V, sinh năm 1971. Gia đình có 02 anh em, bị can là thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1993 (đã ly hôn). Có 01 con sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Ngày 09/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2013; chấp hành xong án phí hình sự, dân sự sơ thẩm ngày 18/01/2013. Đã được xoá án tích.
  • + Ngày 27/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và khoản tiền truy thu ngày 24/02/2022. Đã được xoá án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh B. ( Có mặt).

*Bị hại: Chị Dương Thị M, sinh năm 1993

HKTT: thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh

Địa chỉ hiện nay ở: TDP C, phường T, tỉnh Bắc Ninh. ( Vắng mặt)

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995

Địa chỉ: TDP Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh. ( Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 7/2025, Phạm Xuân T, sinh năm 1993, trú tại Xóm B, xã V, tỉnh Nghệ An đến Công ty TNHH L làm công nhân và ở tại phòng 215 tòa F8 ký túc xá Công ty. Ngày 22/8/2025 T nghỉ việc, đến ngày 26/8/2025 T chuyển ra ngoài đi lang thang, không có nơi tạm trú cố định. Do không có tiền tiêu sài, T nảy sinh ý định đi quanh khu ký túc xá Công ty TNHH L ở tổ dân phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh trộm cắp tài sản mang đi bán lấy tiền chi tiêu.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 28/8/2025, T đi bộ từ quán nước trong khu ký túc xá Công ty TNHH L ra đường phía sau ký túc xá thuộc địa phận tổ dân phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh để tìm tài sản sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến trước cửa của quán hát K T thấy chị Dương Thị M, sinh năm 1993, trú tại thôn P, xã L, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô biển số 98E-518.42 dựng xe trước cửa quán sang đường để mua đồ, tại vị trí móc treo đồ phía trước xe có treo 01 chiếc túi xách vải, màu xanh dương mặt trước của túi có logo chữ màu trắng LUNCH BAG; BRIVILAS. Thấy chị M đang mua đồ không để ý, T đi đến bên trái xe mô tô, tay phải vòng qua xe lấy chiếc túi ra khỏi móc treo và đi bộ đến bờ mương thuộc tổ dân phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, T mở túi ra kiểm tra thấy bên trong có 01 chiếc điện thoại Iphone 12, màu xanh, ốp màu đỏ. T cất điện thoại vào túi quần bên phải, còn chiếc ốp điện thoại màu đỏ và túi xách T vứt xuống dưới mương nước cạnh đó. Sau đó, T đi bộ đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại có tên “thegioididongso.quoc anh” thuộc tổ dân phố M, phường N, tỉnh Bắc Ninh nói là điện thoại của T nhưng không nhớ mật khẩu, bán cho anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố Đ, phường T, tỉnh Bắc Ninh là chủ cửa hàng được số tiền 900.000 đồng. Số tiền này, T đã chỉ tiêu cá nhân hết.

Ngày 29/8/2025, chị Dương Thị M làm đơn trình báo Công an phường T. Cùng ngày, Phạm Xuân T đầu thú và khai nhận đã trộm cắp tài sản của chị M và giao nộp 01 áo phông cộc tay màu đen có chữ “BH BHflex Vina”, 01 quần vải màu xanh có chữ “DR”, 01 đôi giầy màu xanh, đế trắng và 01 mũ lưỡi trai màu đen là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp.

Anh Nguyễn Văn Q tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại Iphone 12 màu xanh gắn sim số 0394.809.173 đã mua của T ngày 28/8/2025.

Cơ quan điều tra cho Pham Xuân T1 xác định hiện trường nơi vứt chiếc ốp điện thoại và chiếc túi xách màu xanh tại khu vực mương nước ở tổ dân phố C, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây đã thu giữ được 01 chiếc túi xách vải, màu xanh dương mặt trước của túi có logo chữ màu trắng LUNCH BAG; BRIVILAS.

Kết luận định giá tài sản số 145 ngày 04/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh B kết luận:

  • - 01 điện thoại di động Iphone 12, màu xanh, dung lượng 64GB, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là: 5.500.000 đồng.
  • - 01 ốp lưng điện thoại chất nhựa, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là: 50.000 đồng.
  • - 01 sim điện thoại mạng V1, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là: 150.000 đồng.
  • - 01 túi xách bằng vải, màu xanh dương, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là: 15.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 5.715.000đồng.

Cơ quan điều tra cho chị Dương Thị M xác định hiện trường nơi bị trộm cắp tài sản và mở khóa điện thoại iphone 12 màu xanh đã thu giữ được. Kết quả, chị M xác định đúng hiện trường nơi bị trộm cắp và xác định đây là điện thoại mà chị M đã bị trộm cắp ngày 28/8/2025.

Cơ quan điều tra cho Phạm Xuân T xác định hiện trường nơi trộm cắp tài sản, nơi bán điện thoại và thực hiện lại hành vi trộm cắp tài sản. Kết quả, T xác định đúng hiện trường nơi trộm cắp, nơi đã bán điện thoại trộm cắp được ngày 28/8/2025 và thực hiện thuần thục động tác trộm cắp chiếc túi xách treo ở xe mô tô của chị M.

Cơ quan điều tra cho Phạm Xuân T quan sát hình ảnh đã trích xuất từ camera tại cửa hàng mua bán điện thoại của anh Nguyễn Văn Q. Kết quả, T xác định có hình ảnh của T đang bán chiếc điện thoại trộm cắp được ngày 28/8/2025.

Cơ quan điều tra cho Phạm Xuân T và anh Nguyễn Văn Q nhận dạng ảnh của nhau. Kết quả, T và anh Q nhận đúng ảnh và xác định T bán chiếc điện thoại di động Iphone 12 màu xanh gắn sim số 0394809173 cho anh Q ngày 28/8/2025. (bút lục 75-77, 89-91)

Đối với anh Nguyễn Văn Q mua chiếc điện thoại do T bán nhưng không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với chiếc ốp điện thoại màu đỏ, Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Dương Thị M đã nhận lại chiếc điện thoại di động Iphone 12 màu xanh gắn sim số 0394809173 và chiếc túi xách vải, màu xanh dương và không yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Q bỏ 900.000 đồng mua điện thoại của T nay không yêu cầu T bồi thường.

Vật chứng vụ án: 01 áo phông cộc tay màu đen có chữ “BH BHflex Vina, 01 quần vải màu xanh có chữ “DR”, 01 đôi giầy màu xanh, đế trắng và 01 mũ lưỡi trai màu đen thu giữ của bị cáo T Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 29/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo T khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

- Hội đồng xét xử công bố lời khai của người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • + Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông cộc tay màu đen có chữ “BH BHflex Vina, 01 quần vải màu xanh có chữ “DR”, 01 đôi giầy màu xanh, đế trắng và 01 mũ lưỡi trai màu đen.
  • + Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Về hành vi của bị cáo Phạm Xuân T: Căn cứ đơn xin đầu thú của bị cáo Phạm Xuân T, đơn trình báo của chị Dương Thị M, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Kết luận định giá tài sản số 1445/KL-ĐGTS ngày 04/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự; căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên toà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, loại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, ngày 28/8/2025 Phạm Xuân T đã lén lút trộm cắp của chị Dương Thị M 01 chiếc túi xách bên trong có 01 điện thoại di động Iphone 12, màu xanh, ốp lưng màu đỏ tổng trị giá 5.715.000 đồng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi trộm cắp của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh theo khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo đang bị tạm giam nên tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

[7] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, trước lần thực hiện hành vi phạm tội bị xét xử trong vụ án này, bị cáo đã 02 lần bị xét xử về tội phạm hình sự nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

[8] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo và cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo để vừa có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng, vừa có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy trước khi phạm tội bị cáo là người không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông cộc tay màu đen có chữ “BH BHflex Vina, 01 quần vải màu xanh có chữ “DR”, 01 đôi giầy màu xanh, đế trắng và 01 mũ lưỡi trai màu đen.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự

[13] Về các vấn đề khác có liên quan:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được nhận lại tài sản bị trộm cắp, anh Nguyễn Văn Q không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 900.000 đồng, đến nay không ai có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[14] Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn P 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ bị tạm giữ, tạm giam 29/8/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông cộc tay màu đen có chữ “BH BHflex Vina, 01 quần vải màu xanh có chữ “DR”, 01 đôi giầy màu xanh, đế trắng và 01 mũ lưỡi trai màu đen.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  6. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND Khu vực 1 - Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CA tỉnh Bắc Ninh);
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS Khu vực 1 - Bắc Ninh
  • - UBND xã Vân Tụ, tỉnh Nghệ An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2025/HS-ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 248/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: fAF
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger