TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 248/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 6 - 2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Như Thuần.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Xuân và bà Ngô Thị Thúy Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương, Thư ký Toà án nhân dân quận Phú Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Xuân tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thùy Linh, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Xuân xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 về việc xin ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ 22 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 101/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Thanh T, sinh năm: 1985; Địa chỉ: F đường số F, tổ dân phố C, khu phố D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Hoàng Công T1, sinh năm: 1980; Địa chỉ: F H, phường Đ, quận P, thành phố H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị Thanh T trình bày:
Chị và anh Hoàng Công T1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/4/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh khoảng 04 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm sống; mặt khác anh T1 ham chơi, không tập trung làm ăn để vun đắp cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn kéo dài không giải quyết được, đến giữa năm 2015 thì anh T1 về quê ở thành phố H sống và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, cả hai không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Hiện chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Công T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là cháu Hoàng Gia H, sinh ngày: 09/4/2009 và Hoàng Gia K, sinh ngày: 17/01/2014, hiện cả hai cháu đều đang ở với chị T. Chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai người con kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Nếu được giao nuôi con, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Hoàng Công T1: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T1 vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản tự khai ngày 04/3/2025, các cháu Hoàng Gia H1 và Hoàng Gia K trình bày: Nếu ba mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Đặng Thị Thanh T được ly hôn với anh Hoàng Công T1. Về con chung: Giao các cháu Hoàng Gia H, sinh ngày: 09/4/2009 và Hoàng Gia K, sinh ngày: 17/01/2014 cho chị Đặng Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không có yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không có yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đặng Thị Thanh T khởi kiện ly hôn, yêu cầu giải quyết việc nuôi con với bị đơn anh Hoàng Công T1. Anh T1 có địa chị cư trú tại phường Đ, quận P, thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Phú Xuân thụ lý vụ án để giải quyết là đúng thẩm quyền.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị Thanh T vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Thanh T và anh Hoàng Công T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/4/2009. Thời điểm đăng ký có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Thanh T, thấy rằng: Theo chị T, vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2013 do không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, anh T1 không tập trung xây dựng gia đình nên từ giữa năm 2015 anh T1 bỏ về quê ở thành phố H sống cho đến nay. Quá trình tố tụng, Tòa án đã Thông báo, triệu tập hợp lệ đối với anh Hoàng Công T1 nhưng anh đều vắng mặt và cũng không có ý kiến phản hồi. Chứng tỏ, anh T1 có ý thức bỏ mặc quan hệ hôn nhân của vợ chồng, không có thiện chí để hàn gắn tình cảm. Xét thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng chị T và anh T1 đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Như vậy, vợ chồng đã không có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Thị Thanh T được ly hôn với anh Hoàng Công T1.
[2.3] Về con chung: Chị Đặng Thị Thanh T và anh Hoàng Công T1 có 02 người con chung là cháu Hoàng Gia H, sinh ngày: 09/4/2009 và Hoàng Gia K, sinh ngày: 17/01/2014.
Xét yêu cầu trực tiếp nuôi con của chị T, thấy rằng: Tại Bản tự khai, cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Từ năm 2015 cho đến nay, hai cháu đều sống với mẹ tại thành phố Hồ Chí Minh. Để đảm bảo ổn định tâm lý, tình cảm, phù hợp quyền lợi về mọi mặt của các cháu; cần giao cả hai cháu cho chị Đặng Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quan điểm Hội đồng xét xử, cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị Thanh T được ly hôn với anh Hoàng Công T1.
- Về con chung: Giao các cháu Hoàng Gia H, sinh ngày: 09/4/2009 và Hoàng Gia K, sinh ngày: 17/01/2014 cho chị Đặng Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đặng Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001015 ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố H. Chị T đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Như Thuần |
Bản án số 248/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 248/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN, CON
