|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 248/2025/DS-PT
Ngày: 02/6/2025
V/v t/chấp “HĐ đặt cọc”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Ngọc Giàu;
Bà Võ Thị Hồng Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Thư, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà:
Bà Đoàn Thị Thủy T - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 108/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 38/2025/ST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 188/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1962.
Trú tại: Số B, Đường N, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
* Bị đơn: Anh Lý Minh T1, sinh năm 1979
Chị Nguyễn Bích N1, sinh năm 1982.
Cùng trú tại: Số B, hẻm S, Đường T, khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Nguyễn Minh S, sinh năm 1985.
Cư trú tại: Số C, Khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh – Là đại diện theo uỷ quyền (Hợp đồng uỷ quyền ngày 12-11-2024); có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn – ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:
Ông Nguyễn Văn N đặt cọc cho anh Lý Minh T1, chị Nguyễn Bích N1 số tiền 100.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 3.654m², thuộc thửa số 90, tờ bản đồ số 21, toạ lạc tại ấp N, xã N, thị xã T (nay là khu phố N, phường N, thành phố T), tỉnh Tây Ninh, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do Ủy ban nhân dân (UBND) thị xã T cấp ngày 27-02-2009 cho anh T1, chị N1. Hai bên thoả thuận giá chuyển nhượng phần đất diện tích 3.654 m² là 540.000.000 đồng. Khi ông N đặt cọc thì GCNQSDĐ đứng tên anh T1 và chị N1 đang thế chấp tại Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh T Phòng giao dịch khu vực H để đảm bảo khoản vay 200.000.000 đồng. “Giấy nhận cọc bán đất” ngày 13-10-2024 do ông N viết, anh T1 lăn tay vào giấy nhận cọc bán đất, sau đó ông yêu cầu anh T1 đem về cho chị N1 ký tên nhưng chị N1 không ký.
Đối với đoạn “Tôi là Nguyễn Văn V là nhân chứng trong vụ buôn bán giữ đôi bên giử ông N và Lý Minh T1 cùng vợ là Nguyễn Bích N1 bán hết đất cho ông Nguyễn Văn N. Tôi là nhân chứng” có ký tên và lăn tay là do anh Nguyễn Văn V con ông viết, sau ngày viết giấy nhận cọc và chuyển tiền khoảng 02-3 ngày.
Trong “Giấy nhận cọc bán đất” không nêu rõ thời gian thực hiện thủ tục chuyển nhượng nhưng đến khi ông liên hệ yêu cầu thực hiện thủ tục chuyển nhượng thì anh T1, chị N1 không đồng ý, yêu cầu ông đưa 1 tỷ đồng vì 540.000.000 đồng là giá của 01 công đất.
Nay ông N khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh T1, chị N1 trả cho ông số tiền 100.000.000 đồng tiền cọc và phạt cọc 100.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Trường hợp anh T1, chị N1 đồng ý tiếp tục chuyển nhượng cho ông thì ông đồng ý với giá 600.000.000 đồng.
Bị đơn anh Lý Minh T1, chị Nguyễn Bích N1 do anh Nguyễn Minh S là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Anh T1 và chị N1 có phần đất diện tích 3.654 m², thuộc thửa đất số 90, tờ bản đồ số 21, toạ lạc tại ấp N, xã N, thị xã T (nay là khu phố N, phường N, thành phố T), tỉnh Tây Ninh do UBND thị xã T cấp cho anh T1, chị N1 vào ngày 27-02-2009. Do cần tiền để điều trị bệnh nên ngày 13-10-2024, anh T1 có thỏa thuận bán cho ông N phần đất trên, giá thỏa thuận là 540.000.000 đồng/1000 m², ông N có trao đổi với chị N1 qua điện thoại và chị N1 cũng đồng ý bán với giá thoả thuận này. Chị N1 có cho ông N biết là phần đất trên đang được thế chấp tại Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh T Phòng giao dịch phường H để vay số tiền 01 tỷ đồng, ông N đồng ý mua thì chuyển tiền làm tin, sau đó ông N có chuyển khoản 100.000.000 đồng.
Ông N có viết giấy nhận cọc bán đất, anh T1 đem về cho chị N1 ký tên lăn tay xác nhận đã nhận tiền cọc mua bán đất vì anh T1 không biết chữ. Chị N1 đọc lại thấy nội dung không đúng như thỏa thuận, ghi sai giá chuyển nhượng nên chị N1 không ký mà yêu cầu anh T1 đến gặp ông N ghi lại giấy nhận cọc. Khi anh T1 đưa lại giấy nhận cọc cho ông N thì ông N kêu anh T1 cứ ký tên lăn tay, 03 ngày sau ông N đem tiền ra Ngân hàng lấy GCNQSDĐ ra đi công chứng rồi ghi lại giấy khác, vì tin tưởng nên anh T1 ký tên lăn tay vào giấy nhận cọc và đưa cho ông N giữ làm tin.
Đến ngày 22-10-2024, Công an phường đến nhà anh T1, chị N1 lập biên bản giải quyết thì anh T1 phát hiện có viết thêm nội dung đoạn “Tôi là Nguyễn Văn V là nhân chứng trong vụ buôn bán giữ đôi bên giử ông N và Lý Minh T1 cùng vợ là Nguyễn Bích N1 bán hết đất cho ông Nguyễn Văn N. Tôi là nhân chứng” có ký tên và lăn tay. Ông N không ghi lại giấy nhận cọc mà ghi thêm nội dung để ngụy tạo chứng cứ để phạt cọc 100.000.000 đồng. Do đó anh T1, chị N1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông N. Trong trường hợp ông N muốn tiếp tục nhận chuyển nhượng thửa đất trên thì bị đơn đồng ý chuyển nhượng với giá 1.000.000.000 đồng.
* Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 38/2025/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ Điều 328 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với anh Lý Minh T1 và chị Nguyễn Bích N1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
- Buộc anh Lý Minh T1 và chị Nguyễn Bích N1 trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với anh Lý Minh T1 và chị Nguyễn Bích N1 về việc phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm trả, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 02/4/2025, ông N kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Về nội dung: Cấp sơ thẩm chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền nhận cọc 100.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu phạt cọc 100.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông N, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy :
[1] Về nội dung vụ án:
Tại giấy nhận cọc bán đất thể hiện: Ngày 13/10/2024 anh Lý Minh T1, chị Nguyễn Bích N1 nhận tiền cọc 100.000.000 đồng của ông Nguyễn Văn N để mua bán phần đất diện tích 3.654m² thửa đất 90, số tiền 540.000.000 đồng, khi ra công chứng trả đủ số tiền còn lại; nếu bên bán không thực hiện thì “1 đền hai”. Bên mua ông N ký tên và lăn tay, bên bán có ông T1 lăn tay, ngoài ra, có anh Nguyễn Văn V ký nhân chứng biết sự việc mua bán đất.
Ông N cho rằng thỏa thuận giá chuyển nhượng hết đất là 540.000.000 đồng. Anh T1 là người ký giấy nhận cọc, chị N1 không có ký tên nhưng có điện thoại thống nhất giá và cho số tài khoản của người khác để nhận tiền chuyển khoản 100.000.000 đồng.
Anh T1, chị N1 cho rằng thỏa thuận giá chuyển nhượng 540.000.000 đồng/1.000m², do anh T1 không biết chữ, đem “giấy nhận cọc” về cho chị N1 xem thấy không đúng nên chị N1 không đồng ý ký tên.
Hai bên đều thống nhất tại thời điểm giao kết hợp đồng, hai bên đều biết rõ phần đất trên vợ chồng anh T1, chị N1 đang thế chấp tại Ngân hàng và ông N, anh V thừa nhận viết dòng chữ “tôi là Nguyễn Văn V là nhân chứng trong vụ buôn bán giữa đôi bên ...bán hết đất cho ông N” do anh V tự viết vào giấy nhận cọc, viết sau đó khoảng 2-3 ngày.
Nhận thấy, hai bên chưa có sự thống nhất về giá chuyển nhượng, thời gian thực hiện thủ tục chuyển nhượng nhưng đã giao kết việc đặt cọc nên dẫn đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không thực hiện được. Cấp sơ thẩm xác định hợp đồng đặt cọc trên là vô hiệu, xét lỗi thuộc về hai bên nên buộc phía bị đơn trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng đã nhận và không phạt cọc là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông N, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Về án phí:
Anh T1 và chị N1 chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông N là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn N.
Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 38/2025/DS-ST ngày 26/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Điều 328 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với anh Lý Minh T1 và chị Nguyễn Bích N1 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Buộc ông Lý Minh T1 và bà Nguyễn Bích N1 trả lại cho ông Nguyễn Văn N số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N đối với anh Lý Minh T1 và chị Nguyễn Bích N1 về việc phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu người phải thi hành án không thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
-
Về án phí
Anh Lý Minh T1 và chị Nguyễn Bích N1 chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn N là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thu Trang |
Bản án số 248/2025/DS-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 248/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn - Nguyen van ngay
