|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 248/2024/HS-ST Ngày 29-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Ông Vũ Khắc Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương, thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Tuấn Ngọc, kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 253/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 926/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Hữu B, sinh ngày 11 tháng 01 năm 2003 tại Thái Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu L và bà Nguyễn Thị T, chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 19/6/2024; tạm giam ngày 27/6/2024; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Hữu B: Ông Lê Công K - Luật sư thuộc Công ty L3 – Đoàn luật sư thành phố H; có mặt
Bị hại: Chị Phạm Thị N, sinh năm: 2005; địa chỉ: P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị hại: chị Trần Thị Vân A, sinh năm 2001; địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi liên quan: Anh Hoàng Hữu L1, sinh năm: 1981, trú tại: Số D Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Do không có tiền ăn tiêu, Lê Hữu B đã nảy sinh ý định đi lang thang xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Trong các ngày 14 và 16/6/2024, Lê Hữu B đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 14/6/2024, Lê Hữu B đi vào bãi gửi xe của trường Đại học H1, phường N, quận K, Hải Phòng thấy ở hốc phía trước xe mô tô nhãn hiệu Honda Visson màu xám biển kiểm soát 15AL - 018.18 của chị Phạm Thị N, sinh năm 2005; trú tại: P, phường H, quận D, Hải Phòng có để chìa khóa xe, 01 vé gửi xe, 01 khẩu trang, trên móc treo đồ để 02 chiếc mũ bảo hiểm, B nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên. Bằng để 02 chiếc mũ bảo hiểm sang xe mô tô khác rồi mở khóa điện, điều khiển xe ra đưa vé xe cho nhân viên trông xe. Sau đó, B điều khiển xe ra khỏi trường đến khu vực ngã 6, C, quận N, thành phố Hải Phòng thì dừng lại kiểm tra trong cốp xe thấy có 01 đăng ký xe và 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị N. Bằng điều khiển xe đến cửa hàng cầm đồ N, số B Đà Nẵng, quận N, Hải Phòng cầm cố cho anh Hoàng Hữu L1, sinh năm 1981; trú tại: số D Đ, phường Đ, quận L Hải Phòng lấy 5.000.000 đồng. Đến ngày 15/6/2024, B đến gặp anh L1 đưa thêm giấy phép lái xe của chị N để cầm cố thêm 5.000.000 đồng. Khi cầm cố xe, B nói xe của người nhà cho mượn để cầm cố.
Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-ĐGTTHS ngày 04/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận K kết luận: giá trị xe mô tô biển kiểm soát 15AL - 018.18 đã qua sử dụng 30.500.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, Lê Hữu B một mình đi bộ đến trường Đại học H2 số B L, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng. Bằng đi vào trong nhà thi đấu đa năng của trường thì nhìn thấy tại bậc lên xuống khán đài có để 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, vỏ ốp màu trắng của chị Trần Thị Vân A, sinh năm 2001; Trú tại: thôn A, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng đang dạy học sinh chơi bóng rổ. Lợi dụng lúc chị Vân A không để ý, B đã lấy chiếc điện thoại cất vào túi xách đeo bên người rồi đi ra khu vực nhà vệ sinh nữ của sân bóng, lấy sim điện thoại bẻ gãy vứt đi. Sau đó, B đi mua đồ ăn mang về khu vực cửa nhà vệ sinh nữ ngồi ăn thì bị anh Nguyễn Thái B1, sinh năm 1978; trú tại: Tổ dân phố P, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng và anh Nguyễn Quang H, sinh năm: 2002; trú tại: Số G H, quận L, thành phố Hải Phòng nghi vấn, kiểm tra, phát hiện nên đưa B về trụ sở Công an phường K làm việc. Cơ quan Công an thu giữ của Bằng chiếc điện thoại vừa trộm cắp được và 01 túi sách màu đen in dòng chữ "Character bag three Fea Ther".
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-ĐGTTHS ngày 19/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận: giá trị chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax đã qua sử dụng là 13.000.000 đồng.
Ngày 19/6/2024, anh Hoàng Hữu L1 đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L xe mô tô biển kiểm soát 15AL-018.18; 01 chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị N. Anh L2 trình bày: khi cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 15AL - 018.18 cho Lê Hữu B, B nói đây là tài sản của người nhà, anh L2 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Số tiền cầm cố xe mô tô là 10.000.000 đồng, anh L2 không yêu cầu Lê Hữu B phải bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận L 01 chiếc túi màu đen in dòng chữ “Character bag three Fea Ther”; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax của chị Trần Thị Vân A và 01 xe mô tô biển kiểm soát 15AL - 018.18 cùng giấy đăng ký xe mô tô, giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị N.
Về trách nhiệm dân sự: chị Phạm Thị N, Trần Thị Vân A và anh Hoàng Hữu L1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Tại Cáo trạng số 262/CT-VKSLC ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Lê Hữu B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Hữu B phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hữu B mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi màu đen in dòng chữ “Character bag three Fea Ther" (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 08/10/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa: Không tranh luận tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã luận tội tại phiên toà đối với bị cáo B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải của bị cáo B và xem xét việc B có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và được khen thưởng trong xây dựng lăng Hồ Chủ tịch. Bố, mẹ bị cáo có nhiều giấy khen về thành tích trong lao động sản xuất. Để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt dưới mức khởi điểm mà Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã đề nghị.
Bị cáo Lê Hữu B đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị hại chị Phạm Thị N và chị Trần Thị Vân A, người có quyền lợi liên quan anh Hoàng Hữu L1 đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng vắng mặt tại phiên tòa, có đề nghị xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của người bị hại và người có quyền lợi liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử, nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi liên quan.
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:
[3] Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố là đúng người, đúng tội. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà là tự nguyện, khách quan phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác, phù hợp vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà là phù hợp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Ngày 14/9/2024, Lê Hữu B đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô biển kiểm soát 15AL - 018.18 đã qua sử dụng trị giá 30.500.000 đồng của chị Phạm Thị N tại nhà để xe khu C trường Đại học H, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. Ngày 16/9/2024, Lê Hữu B đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphnone 12 Promax trị giá 13.000.000 đồng của chị Trần Thị Vân A tại nhà thi đấu trường Đại học H3, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng. Tổng giá trị tài sản Lê Hữu B chiếm đoạt là 43.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Lê Hữu B đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Về tính chất của vụ án:
[4] Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật Hình sự đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Từ ngày 14/6/2024 đến ngày 19/6/2024 bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo bị áp dụng tinh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác bị cáo có ông nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và được khen thưởng trong xây dựng lăng Hồ Chủ tịch. Bố, mẹ bị cáo có nhiều giấy khen về thành tích trong lao động sản xuất được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt áp dụng:
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đề xuất là phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Do bị cáo không nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[9] Bị hại là chị Phạm Thị N, chị Trần Thị Vân A và người có quyền lợi liên quan là anh Hoàng Hữu L1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Vật chứng thu giữ là 01 chiếc túi màu đen in dòng chữ “Character bag three Fea Ther” (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 08/10/2024) không còn giá trị sử dụng nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Hữu B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Hữu B 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 6 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc túi màu đen in dòng chữ “Character bag three Fea Ther" (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ngày 08/10/2024).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Hữu B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Các bị hại và người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Khắc Thịnh |
Bản án số 248/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 248/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu B - trộm cắp tài sản
