|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 248/2024/HSST Ngày 28/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Việt Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vĩ
Bà Nguyễn Thị Hồng
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Thu Trang– Cán bộ Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Tạ Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 215/2024/TLST - HSST ngày 25/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXX ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1979; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: th«n L, xã N, huyện S, TP . Néi; Nghề nghiệp: Lái xe; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1940,(đã chết); Họ tên mẹ: Quách Thị Đ, sinh năm 1940; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; Con: có 03 con, (con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2021). Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Trần Văn H1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 12/3/2024, anh Trần Văn H1, sinh năm 1988, trú tại thôn X, xã T, huyện S, Hà Nội điều khiển xe ô tô chở rác di chuyển ra Cổng B - Khu L, địa phận thôn Đ, xã N, huyện S, Hà Nội thì thấy xe ôtô BKS: 29C - 757.70 do Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, trú tại thôn L, xã N, huyện S, Hà Nội điều khiển đang đỗ cùng chiều ở phía bên đường. Anh H1 nghĩ L đang chuẩn bị đổ rác thừa từ xe ra ngoài đường nên đã điều khiển xe chạy ngang qua xe Lượng rồi dùng điện thoại Iphone 11 Pro của mình quay chụp hình ảnh của L. Thấy anh H1 chụp hình ảnh của mình nên L nhặt tấm bìa cứng ném về phía xe anh H1 nhưng không trúng. Lượng chạy đuổi theo xe anh H1 và nói “mày quay gì anh đấy, có xóa đi không”. Thấy vậy, anh H1 dừng xe thì cùng lúc L nhảy lên cửa lái xe, bám vào gương chiếu hậu và dùng tay phải giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro của anh H1 đang cầm trên tay trái rồi nhảy xuống xe. Anh H1 yêu cầu L trả lại điện thoại nhưng L không trả và bỏ đi. Sau đó, anh H1 đến trụ sở Công an xã N, huyện S trình báo vụ việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 89/12.4.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro của anh Trần Văn H1 tại thời điểm bị Nguyễn Văn L chiếm đoạt, trị giá 7.766.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số:202/CT – VKS ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố Nguyễn Văn L tội Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi đánh giá chứng cứ, tính chất vụ án, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- - Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 15 - 18 tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung vụ án đã nêu ở phần trên và phù hợp với lời khai củabị cáo tại Cơ quan điều tra. Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 19 giờ, ngày 12/03/2024, anh Trần Văn H1 điều khiển xe ô tô chở rác di chuyển ra Cổng B - Khu L, thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện S, TP. Hà Nội thì thấy xe ôtô BKS: 29C - 757.70 do Nguyễn Văn L điều khiển đang đỗ cùng chiều ở phía bên đường. Anh H1 nghĩ L đang chuẩn bị đổ rác thừa từ xe ra ngoài đường nên đã điều khiển xe chạy ngang qua xe Lượng rồi dùng điện thoại Iphone 11 Pro của mình quay chụp hình ảnh của L. Thấy anh H1 chụp hình ảnh của mình nên L nhặt tấm bìa cứng ném về phía xe anh H1 nhưng không trúng. Lượng chạy đuổi theo xe anh H1 và nói “mày quay gì anh đấy, có xóa đi không”. Thấy vậy, anh H1 dừng xe thì cùng lúc L nhảy lên cửa lái xe,
bám vào gương chiếu hậu và dùng tay phải giật chiếc điện thoại Iphone 11 Pro của anh H1 đang cầm trên tay trái rồi nhảy xuống xe. Anh H1 yêu cầu L trả lại điện thoại nhưng L không trả và bỏ đi. Anh H1 đến trụ sở Công an xã N, huyện S trình báo vụ việc.
Hành vi của bị cáo nhảy lên cửa xe ô tô giật 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn H1 có trị giá 7.766.000đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại trực tiếp quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo còn xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, việc truy tố bị cáo ra trước pháp luật là cần thiết và cần phải có một mức án phù hợp tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo.
[3] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tính chất vụ án, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự quy định.
- - Về nhân thân: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Sau khi phạm tội bị cáo đã giao nộp trả lại chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra. Ngày 21/11/2024 được anh H2 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Tuy nhiên sau đó anh H2 đã rút lại đơn miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Do vậy bị cáo chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xem xét tính chất của vụ án, nhân thân của bị cáo và loại tội bị cáo vi phạm là nghiêm trọng. Do vậy Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình cơ quan Công an xác minh tại địa phương thể hiệnbị cáo lao động chính trong gia đình, thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5].Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về vật chứng: Quá trình điều tra có tạm giữ của Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro. Ngày 25/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc điện thoại cho anh Trần Văn H1 là đúng quy định.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- - Điều 135, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
- Xử phạt: Nguyễn Văn L 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- - Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- - Quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Lê Việt Hùng |
Bản án số 248/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 248/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
