Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 248/2024/HSST

Ngày: 11/12/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long.- Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Văn Long
  2. Ông Phạm Thế Ngọc

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Minh Sỹ - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 215/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2024/QĐXXST ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/3/2006; Nơi cư tru: Thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Nguyễn Ngọc H (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1 (Sinh năm: 1980); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/5/2021 Công an huyện T phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Lệnh tạm giam số 883 ngày 22/6/2024 của Cơ quan CSĐT – Công an quận Đ, thành phố Hà Nội).

2. Họ và tên: Nguyễn Hoài N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/01/2007; Nơi cư tru: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Nguyễn Anh T2 (sinh năm: 1985); Họ tên mẹ: Phạm Thị H1 (Sinh năm: 1983); Tiền án, tiền sự: 01 tiền án:

Ngày 18/10/2023, tại bản án số 256/2023/HS-ST Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 20 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng nhưng cho hường án treo thời gian thử thách 40 tháng kê từ ngày tuyên án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1 – Công an thành phố H.

3. Họ và tên: Nguyễn Thành N1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 03/12/2006; Nơi cư tru: số B, ngách C N, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Nguyễn Văn H2 (sinh năm: 1969); Họ tên mẹ: Phạm Thị L (Sinh năm: 1971); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/8/2024 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1 – Công an thành phố H.

4. Họ và tên: Phạm Duy A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 18/7/2007; Nơi cư tru: Tổ A, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Thái Duy L1 (sinh năm: 1981); Họ tên mẹ: Phạm Thanh T3 (Sinh năm: 1984); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (Lệnh tạm giam số 1289 ngày 09/9/2024 của Cơ quan CSĐT – Công an quận H, thành phố Hà Nội).

5. Họ và tên: Vũ Đức T4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09/10/2004; Nơi cư tru: tổ A, phường T, H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Vũ Tường Lâm C (sinh năm: 1977); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H3 (Sinh năm: 1979); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh.

6. Họ và tên: Trương Đình B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/2/2008; Nơi cư tru: Thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Trương Đình D (sinh năm: 1969); Họ tên mẹ: Lục Thị L2 (Sinh năm: 1968); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh.

7. Họ và tên: Trần Đức M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/10/2005; Nơi cư tru: tổ A, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Trần Tiến D1 (sinh năm: 1978); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L3 (Sinh năm: 1984); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh.

Tất cả các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo Trương Đình B, Phạm Duy A, Nguyễn Hoài N: bà Nguyễn Thị L4- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành N1 là ông Nguyễn Quang P- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Đức T4: ông Đào Hồng S- sinh năm 1993 - số thẻ luật sư 1788/LS. (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Phạm Duy A: ông Thái Duy L1 – Sinh năm: 1981; HKTT: Tổ A Ngách A ngõ G, phường H, quận H, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trương Đình B: ông Trương Đình D, sinh năm 1969; HKTT: Cụm I V, T, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Hoài N là bà Phạm Thị H1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Số A T, phường H, quận H, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Thành N1 là bà Nguyễn Thị L5, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Số B ngách C Tổ A N, phường T, quận L, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Thuận Đ; Sinh năm: 2007; Địa chỉ: Số H, tổ dân phố số B, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội.

Anh Nguyễn Chí T5; Sinh năm: 2007; Địa chỉ: Xóm B, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 20 giờ ngày 17/2/2024, Nguyễn Hoàng T đang ở nhà tại thôn T, T, T, Hà Nội thì Trương Đình B, Phạm Duy A, Nguyễn Thành N1, Trần Đức M cùng với Đàm Minh C1 (sinh ngày 12/4/2009 -14 tuổi,10 tháng 05 ngày), nơi cư trú: tổ A, phường T, H và Nguyễn Thùy Linh A1 (sinh ngày 03/9/2007 -16 tuổi, 05 tháng 14 ngày), nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội cùng đi đến nhà T chơi. Tại đây cả nhóm cùng rủ nhau đi chơi lang thang, uống nước. Trước khi đi, B và T thống nhất mang theo 01 thanh kiếm có vỏ bao hình trụ tròn bằng sắt dài 50cm (là loại kiếm rút, vỏ bao có thể nối với chuôi kiếm để tăng độ dài lên đến 82cm) T đang để dưới chiếc đệm ở giường trong phòng ngủ của T với mục đích nếu đi đường bị đánh thì sẽ dùng để chống trả. Trên đường do phải điều khiển xe máy nên B đã đưa kiếm cho C1 cầm. Sau đó T rủ thêm Vũ Đức T4 cùng cả nhóm đi lên khu vực nóc hầm Kim L6 để uống nước.

Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày thì T, B, Duy A, T, M; T4; C1 và Linh A1 cùng đi về đến đoạn đường N (đoạn đường giao cắt với lối vào trường THPT V - Ba Lan) cả nhóm tiếp tục đi về hướng Văn Đ1 đi T thì gặp Nguyễn Hoài N là bạn chơi cùng. Cũng tại đây, B nhặt được 01 chiếc mũ bảo hiểm và treo ở yếm xe còn Thành Nam nhặt được 01 chiếc mũ bảo hiểm khác cầm trên tay rồi cả nhóm tiếp tục di chuyển. Khi đi đến đoạn đường N thuộc địa phận thị trấn V, huyện T, Hà Nội thì cả nhóm thấy Nguyễn Thuận Đ (sinh ngày 27/10/2007, nơi cư trú: số H, tổ dân phố B, xã V, huyện T) đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 38K1-585.79 sau xe chở Nguyễn Chí T5 (sinh ngày 08/4/2007, nơi cư trú: xóm B, thị trấn V, huyện T) đi cùng chiều và phóng xe vượt lên phía trước. Cho rằng Đ và T5 khiêu khích nên T hô "đuổi theo chúng nó" thì B đang điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng BKS: 29M1-732.02 chở Linh A1 trên xe đang treo 01 chiếc mũ bảo hiểm, Duy A đang điều khiển xe máy Honda Wave màu trắng BKS: 29H2-326.86 chở C1 ngồi sau (C1 đang cầm theo 01 thanh kiếm cất giấu trong người), T điều khiển xe máy honda Wave màu trắng BKS: 29M1-818.37 sau xe chở Thành Nam đang cầm 01 chiếc mũ bảo hiểm trên tay; M điều khiển xe máy Honda Vision BKS: 29X7-735.00 màu xanh đen chở T4 còn Hoài N điều khiển xe máy Honda Vision màu xám BKS: 29H2-508.72 một mình cùng rú ga, phóng xe với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, hú còi và cùng truy đuôi xe của Đ và T5 với độ dài khoảng 3km bắt đầu từ lối giao giao đường P - N đến lối rẽ vào Tổ dân phố số 4 thuộc xã V, T. Khi đi đến đoạn đường đối diện cây xăng G1 thì xe của B chở Linh A1 đã chặn và ép được xe của Đ và T5 dừng lại. Bách liền xuống xe và lấy chiếc mũ bảo hiểm treo ở xe đập mạnh xuống đất để đe dọa uy hiếp tinh thần của Đ, T5 rồi lao vào dùng tay không đấm nhiều cái vào mặt Đ. Cùng lúc này Duy A, T4 và T thấy B đang cầm mũ bảo hiểm đe dọa đã cùng xuống xe và dùng chân tay không đánh Đ và T5; Thành N1 cũng lấy chiếc mũ bảo hiểm và cầm trên tay lao vào đánh Đ và T5; Hoài Nam trực tiếp đứng ngoài và dùng điện thoại để quay lại video hình ảnh mọi người đánh Đ và T5; còn M, Linh A1 và C1 đang cất giấu thanh kiếm trong người ngồi trên xe máy chứng kiến vụ việc.

Quá trình xảy ra va chạm đánh nhau, Duy A thấy có 01 chiếc Pod (máy hút thuốc lá điện tử) màu xanh và 01 chiếc chìa khóa điện xe máy rơi ra đường nên nhặt và vứt chiếc Pod đi còn chiếc chìa khóa thì đưa cho Thành N1 cầm với mục đích không cho Đ, T5 đi xe máy về. Trên đường về T đã vứt chiếc chìa khóa điện đi. Sau đó cả nhóm tiếp tục quay lại nóc hầm Kim L6 ngồi uống nước đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì bảo nhau đi về. Khi về đến đoạn bến xe N, C1 đưa trả cho T thanh kiếm rồi mọi người ai về nhà đấy.

Hậu quả: Anh Nguyễn Thuật Đ2 và anh Nguyễn Chí T5 bị chấn thương phần mềm tay và vùng thái dương phải. Sau khi vụ việc xảy ra anh Đ2 bị hư hỏng 01 chiếc kính cận đã qua sử dụng, anh T5 bị rơi mất 01 chiếc chìa khóa điện xe máy Honda AirBlade đã qua sử dụng và 01 chiếc Pod (máy hút thuốc lá điện tử) đều đã qua sử dụng.

Ngày 21/2/2024 UBND xã V có công văn số 66/UBND gửi CQĐT – Công an huyện T về sự việc xảy ra ngày 17/2/2024 đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã V, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân và đề nghị Công an huyện T điều tra, làm rõ, xử lý các đối tượng trong vụ việc xảy ra ngày 17/02/2024 tại V.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với thương tích của Nguyễn Thuật Đ2 và anh Nguyễn Chi T6. Tại bản kết luận số 378 ngày 28/3/2024 Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh T5 là 0%. Tại bản kết luận số 389 ngày 29/03/2024 Trung tâm pháp y Sở Y kết luận tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh Đ2 là 0%. Các thương tích của Đ2 và T7 do vật tây gây ra. Tiến hành khám nghiệm hiện trường, và tiến hành rà soát camera tại khu vực hiện trường CQĐT không thu giữ được video hình ảnh nào ghi lại nội dung, diễn biến sự việc.

Quá trình điều tra, CQĐT đã tạm giữ 04 xe máy đã qua sử dụng gồm:

  • 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng số máy: JA39E0533591, số khung: RLHJA390 HY558460 BKS 29H2-326.86; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29M1-732.02; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám BKS: 29H2-508.72 .01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám BKS: 29X7-735.00. 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29M1 – 818.37.
  • 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh; 01 thanh kiếm dạng rút có vỏ bao hình trụ tròn bằng sắt dài 50cm đều đã qua sử dụng.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29M1-732.02; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám BKS:29H2-508.72; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xám BKS:29X7-735.00; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS:29M1-818.37 quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu của chị Trương Thị Thúy H4; Nguyễn Anh T2; Trần Tiến D1 và Nguyễn Văn L7 nên CQĐT đã ra quyết định xử lý bằng hình thức trao trả cho chị H4, anh T2, anh D1, L7. Chị H4, anh T2, anh D1, L7 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng số máy: JA39E0533591, số khung: RLHJA3901HY558460 đeo 01 chiếc BKS 29H2-326.86; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh; 01 thanh kiếm dạng rút có vỏ bao hình trụ tròn bằng sắt dài 50cm (vỏ bao có thể nối với chuỗi kiếm để tăng độ dài lên đến 82cm) đều đã qua sử dụng là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý.

Đối với 01 chiếc kính cận; 01 chiếc chìa khóa điện xe máy Honda AirBlade và 01 chiếc Pod (máy hút thuốc lá điện tử) đã qua sử dụng anh Nguyễn Thuận Đ và Nguyễn Chí T5 làm rơi trong quá trình xảy ra vụ việc. CQĐT đã có yêu cầu định giá thiệt hại tài sản nhưng chủ sở hữu là Nguyễn Thuận Đ và Nguyễn Chí T5 đều từ chối với lý do thiệt hại không đáng kể.

Về dân sự. Đại diện gia đình Nguyễn Thành N1, Nguyễn Hoàng T và Vũ Đức T4 đã bồi thường cho gia đình cháu Đ với tổng số tiền là 4.000.000 đồng, gia đình cháu Đ đã nhận tiền không yêu cầu gì.

Tại CQĐT: Trương Đình B; Phạm Duy A; Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thành N1, Vũ Đức T4, Nguyễn Hoài N và Trần Đức M đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên lời khai của các bị can phù hợp với các tài liệu do CQĐT thu thập được.

Đối với Đàm Minh C1: có hành vi cầm theo 01 thanh kiếm dạng rút có vỏ bao hình trụ tròn bằng sắt dài 50cm (vỏ bao có thể nối với chuôi kiếm để tăng độ dài lên đến 82cm) cất giấu trong người và cùng tham gia truy đuổi Đ, T5, nhưng không trực tiếp tham gia đánh. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, C1 dưới 16 tuổi nên chưa đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với loại tội này do đó Công an huyện T quyết định xử phạt hành chính đối với C1 về hành vi gây rối trật tự công cộng theo điểm b, khoản 5, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ bằng hình thức cảnh cáo

Đối với Nguyễn Thùy Linh A1 không biết việc B, T và C1 mang theo kiếm khi đi chơi. Trước khi vụ việc xảy ra Linh A1 đã can ngăn B cùng cả nhóm không truy đuổi theo Đ, T5; Linh A1 không có mục đích đuổi để đánh nhau với Đ, T5 nên CQĐT không xử lý gì đối với Nguyễn Thùy Linh A1.

Tại bản cáo trạng số 176/CT-VKS-TT ngày 23/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, công nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng và mong hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất.

Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo chưa thành niên đều nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc quản lý giám sát con em mình, nhất trí với lời khai của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xư xem xét khoan hồng cho các bị cáo.

Những người bào chữa cho các bị cáo đều nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố tại bản cáo trạng nhưng cho rằng hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghi là quá nghiêm khắc. Các bị cáo đều còn trẻ, nhận thức pháp luật và ứng xử còn hạn chế, dễ bị kích động. Các bị cáo không có ý định phạm tội từ ban đầu và không gây thiệt hại đáng kể về sức khỏe cho người khác. Việc phạm tội của các bị cáo phần nào cũng có một phần lỗi trong sự quản lý, giám sát, giáo dục của gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo đã có ý thức bồi thường và đối với các bị cáo chưa thành niên.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thuận Đ và anh Nguyễn Chí T5 vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử công bố lời khai, ý kiến của anh Đ và anh T5 có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với các bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Các Điều 51, 65, 91, 101, 104 Bộ luật Hình sự 2015

Xử phạt các bị cáo: Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Hoài N mức án từ 28 đến 30 tháng tù;

Xử phạt các bị cáo: Nguyễn Thành N1, Phạm Duy A mức án từ 24 đến 26 tháng tù.

Xử phạt các bị cáo: Trường Đình B1, Vũ Đức T4, Trần Đức M mức án từ 24 đến 26 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách tư 48 – 52 tháng kể từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy thanh kiếm thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoàng T; Tịch thu sung công 01 xe máy thu giữ của bị cáo Phạm Duy A và 01 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoài N.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quả pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo chưa thành niên, những người bào chữa cho các bị cáo...

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan... cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 22 giờ ngày 17/2/2024, tại đoạn đường từ lối giao giữa đường P - N đến lối rẽ vào Tổ dân phố số 4 thuộc xã V, T, Hà Nội, Trương Đình B; Phạm Duy A; Nguyễn Hoàng T; Nguyễn Thành N1, Vũ Đức T4, Nguyễn Hoài N và Trần Đức M đã điều khiển xe máy với tốc độ cao, cầm theo hung khí, lạng lách, đánh võng, ga, hú còi inh ỏi, để truy đuổi anh Nguyễn Thuận Đ đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade BKS: 38K1-585.79, sau xe chở anh Nguyễn Chí T5. Sau khi cả nhóm chặn ép được xe của anh Đ và anh T5 các bị cáo đã dùng mũ bảo hiểm và chân tay không để đánh anh Đ và anh T5, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân đang sinh sống trên địa bàn xã V huyện T, Hà Nội, phạm vào tội: “Gây rối trật tự công cộng” tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự. Ủy ban nhân dân xã V cũng đã có công văn gửi CQĐT – Công an huyện T xác định sự việc xảy ra ngày 17/2/2024 đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, đề nghị Công an huyện T điều tra, làm rõ, xử lý các đối tượng trong vụ việc.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những đã gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, uy tín của địa phương mà còn trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe người khác, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho dân cư sinh sống trên địa bàn. Các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng xe gắn máy, mang theo hung khí đuổi đánh nhau trên quãng đường dài, có tính chất côn đồ, manh động tại khu vực công cộng, đông dân cư sinh sống và làm việc. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Xét vai tro của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội thấy:

Nhiều bị cáo khi phạm tội mặc dù chưa đủ 18 tuổi nhưng đã phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Bị cáo Nguyễn Hoàng T phải chịu mức hình phạt cao nhất so với các bị cáo khác vì là người khởi xướng sự việc. T8 kiếm mang theo khi đi uống nước cũng là của bị cáo. T là người khởi xướng hành vi truy đuổi và tham gia vào việc đánh các anh Nguyễn Thuận Đ, Nguyễn Chí T5; Nhân thân bị cáo đã từng bị xử phạt về tội Trộm cắp tài sản

Bị cáo Nguyễn Hoài N không tham gia vào việc gây thương tích đối với Nguyễn Thuận Đ và Nguyễn Chí T5 nhưng tham gia tích cực trong việc cùng các bị cáo khác trong việc gây rối trật tự công cộng, gây bất ổn trị an bằng hành vi dùng điện thoại cá nhân của mình quay lại hành vi của các bị cáo khác nên phải mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại.

Các bị cáo Nguyễn Thành N1, Phạm Duy A, Vũ Đức T4, Trần Đức M và Trương Đình B đều tiếp nhận ý chí của bị cáo T và tham gia tích cực vào việc thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng nên phải chịu mức hình phạt ngang nhau.

[4] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cái nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Thành N1, Nguyễn Hoàng T và Vũ Đức T4 đa liên đới bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Nguyễn Thuận Đ số tiền 4 triệu đồng; Trong quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo Trương Đình B đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Nguyễn Thuận Đ số tiền 2 triệu đồng; Bị cáo Trần Đức M đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho anh Nguyễn Chí T5 số tiền 1 triệu đồng. Vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sư đối với các bị cáo.

Xét thấy các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Trương Đình B, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Thành N1, Phạm Duy A khi phạm tội đều chưa đủ 18 tuổi, là học sinh nên nhận thức pháp luật còn kém, suy nghĩ chưa trưởng thành. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo trên.

Các bị cáo Trương Đình B, Vũ Đức T4 và Trần Đức M có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, sau khi đánh gia tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự để các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, co cơ hội tiếp tục học tập, tu dưỡng, rèn luyện, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[5] Tổng hợp hình phạt:

Đối với bị cáo Nguyễn Thành N1 cần tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản” tại bản án số 188/2024/HSST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo đều không có việc làm và thu nhập ổn định, phần lớn là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[7] Về bồi thường dân sự: Đại diện gia đình anh Nguyễn Thuận Đ đã nhận số tiền bồi thường 4 triệu đồng và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Đức M bồi thường cho anh Nguyễn Chí T5 số tiền 1 triệu đồng; Ghi nhận sự tự nguyện của gia đình bị cáo Trương Đình B bồi thường cho anh Nguyễn Thuận Đ số tiền 2 triệu đồng.

[8] Về xử lý vật chứng:

Cần tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm dạng rút có vỏ bao hình trụ tròn bằng sắt dài 50cm (vỏ bao có thể nối với chuỗi kiếm để tăng độ dài lên đến 82cm) thu giữ của bị cáo T, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu tàng trữ, cấm lưu hành.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng số máy: JA39E0533591, số khung: RLHJA3901HY558460 đeo 01 chiếc BKS 29H2-326.86 thu giữ của bị cáo Duy A, bị cáo khai tại cơ quan điều tra mua của một người không quen biết với giá 12 triệu đồng và đã làm mất giấy tờ. Chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng; Qua xác minh xe chủ xe là ông Nguyễn Trường G là công cụ phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh thu giữ của bị cáo Nguyễn Hoài N. Bị cáo khai là tài sản của bị cáo, dùng để quay video hành vi phạm tội của các bị cáo khác cũng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo chưa thành niên và những người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Từ các nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Trương Đình B, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Thành N1, Phạm Duy A, Vũ Đức T4 và Trần Đức M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”

2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015;

  • - Áp dụng: Các Điều 106; 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015
  • - Áp dụng thêm Điều 91; Điều 101; Điều 104 Bộ luật Hình sự 2015 các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thành N1, Trương Đình B, Phạm Duy A và Nguyễn Hoài N.
  • - Áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thành N1, Vũ Đức T4, Trương Đình B va Trần Đức M.
  • - Áp dụng thêm Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thành N1.
  • - Áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 đối với các bị cáo Trương Đình B, Vũ Đức T4 và Trần Đức M.
  • - Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

3. Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Hoàng T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tu, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Hoài N 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tu, thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2024.

Bị cáo Nguyễn Thành N1 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội Cướp tài sản tại Bản án số 188/2024/HSST ngày 20/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.

Bị cáo Phạm Duy A 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bị cáo Vũ Đức T4 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng kê từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND phường T, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Bị cáo Trương Đình B 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng kê từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Bị cáo Trần Đức M 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 04 (bốn) năm 04 (bốn) tháng kê từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND phường T, quận L, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

4. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kiếm dạng rút có vỏ bao hình trụ tròn bằng sắt dài 50cm (vỏ bao có thể nối với chuỗi kiếm để tăng độ dài lên đến 82cm) đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng số máy: JA39E0533591, số khung: RLHJA3901HY558460 đeo 01 chiếc BKS 29H2- 326.86 đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung A12 màu xanh đã qua sử dụng.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/9/2024.

5. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo, mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người đại diện theo pháp luật và những người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lê.

Nơi nhân:

  • - TAND thành phố Hà Nội ;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì
  • - Các bị Cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Bảo Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 248/2024/HSST ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội về hình sự: gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 248/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Trương Đình B, Nguyễn Hoài N, Nguyễn Thành N1, Phạm Duy A, Vũ Đức T4 và Trần Đức M phạm tội: "Gây rối trật tự công cộng".
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger