TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 248/2024/HS-PT Ngày: 07-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hậu.
Các Thẩm phán:
- 1/ Ông Trương Công Huấn.
- 2/ Ông Phan Thanh Nguyễn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 223/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Ngọc L, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 224/2024/HS-ST ngày 23/5/ 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Vũ Ngọc L; sinh năm 1988, tại tỉnh L; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã H, huyện D, tỉnh L; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 03/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Vũ Ngọc C (đã chết) và bà Vũ Thị T; Vợ là Võ Thị H và có 02 người con, đứa lớn sinh năm 2019, đứa nhỏ sinh năm 2023; Tiền sự: Không
Tiền án: Ngày 26/4/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo Bản án số 80/2021/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/7/2021, đóng án phí ngày 21/02/2022.
Nhân thân:
- Ngày 27/4/2010, bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 50/2010/HSPT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2011 và đã xóa án.
- Ngày 21/01/2013, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 22/2013/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/9/2013 và đã xóa án.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/11/2023; có mặt.
(Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Tăng Chánh T, Hồ Ngọc P, Nguyễn Trường S, Ngô Hoàng T, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng nghị)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 04/4/2023, Tăng Chánh T điều khiển xe Vision (không rõ biển số) chở Hồ Ngọc P đi lòng vòng trên địa bàn phường H, thành phố Thủ Đức để xem ai để tài sản sơ hở thì lấy trộm. Khi đi ngang nhà số C, đường B, khu phố T, phường H thì Phúc phát hiện cửa chính bên trong căn nhà này mở, cửa cổng khóa và thấy trước sân dựng nhiều xe mô tô nên P kêu T dừng xe và đứng bên ngoài cảnh giới, còn P thì leo rào vào bên trong sân nhà để lấy trộm xe. P vào bên trong nhà lấy các chùm chìa khóa để trên kệ gỗ ra mở cổng, rồi quay vào sân dắt chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario, biển số 59S3-125.20 của anh Nguyễn Đức H ra trước cổng, rồi nổ máy và cùng T đi đến Bãi giữ xe thuộc Cao ốc căn hộ T, số 205 N, phường H, quận B. Tại đây, T gửi chiếc xe mô tô hiệu Vision, rồi điều khiển chiếc xe vừa trộm được chở P quay lại nhà số C, đường B, khu phố T, phường H để tiếp tục lấy trộm xe. Đến nơi, T đứng ngoài cảnh giới còn P thì vào nhà dắt chiếc xe mô tô hiệu Honda Sonic biển số 59S3-125.53 của anh Nguyễn Đức H, rồi cùng T điều khiển xe đến Bãi giữ xe thuộc Cao ốc căn hộ T để gửi xe mô tô Honda Sonic BS: 59S3-125.53. Gửi xong T tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda Vario BS 59S3-125.20 chở P quay lại số C, đường B, khu phố T, phường H và T cũng đứng bên ngoài cảnh giới, P vào nhà dắt xe mô tô Honda SH Mode BS 59E1-902.57 của anh Nguyễn Quốc H ra, rồi cùng T điều khiển xe đến Bãi giữ xe thuộc Cao ốc căn hộ T để gửi chiếc xe mô tô Honda Vario BS 59S3-125.20. T tiếp tục điều khiển xe mô tô Honda SH Mode BS 59E1-902.57 chở P quay lại số C, đường B, khu phố T, phường H và T cũng ở bên ngoài cảnh giới, còn P vào nhà dắt xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 59D2-084.73 của anh Nguyễn Đức H ra trước cổng,
rồi cùng T điều khiển đến Bãi giữ xe thuộc Cao ốc căn hộ T gửi chiếc xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 59D2-084.73.
Sau khi lấy trộm các chiếc xe trên thì T chụp ảnh và đăng lên trang mạng Facebook “Mua bán xe TP. HCM” để bán xe, rồi nhắn tin cho tài khoản Zalo “P” của Vũ Ngọc L để trao đổi về việc mua bán các chiếc xe do T vừa trộm được và hẹn gặp L tại Bến xe Đ, đường Đ, phường H, quận B để bán 04 xe mô tô trên. Khoảng 03 giờ 00 ngày 04/4/2023, P điều khiển chiếc xe Vario biển số 59S3-125.20, T điều khiển chiếc xe SH Mode BS 59E1-902.57 đến trước cổng số 3 của Bến xe Đ, quận B thì gặp Vũ Ngọc L và 01 thanh niên tên L1 là bạn của L. Lúc này L yêu cầu được xem xe nên T điều khiển chiếc xe mô tô SH Mode chở L, còn P thì điều khiển xe mô tô Vario chở L đến trước Bãi giữ xe thuộc Cao ốc căn hộ T. Tại đây T và L đứng đối diện Cao ốc căn hộ T, còn P và L1 vào bãi xe lấy chiếc xe mô tô Sonic và chiếc xe mô tô Vision đã trộm được ra bên ngoài. Sau đó, T điều khiển xe SH mode, P điều khiển xe Vision, L điều khiển xe Vario và L1 điều khiển xe Sonic cùng đến trước Siêu thị Coopmart đường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh gửi 04 chiếc xe trên vào bãi xe của Siêu thị Coopmart rồi cùng nhau ra trước cổng siêu thị để thảo luận giá cả. Hai bên thống nhất giá mua bán 04 xe mô tô trên là 30.000.000 đồng, L đưa cho T 14.000.000 đồng tiền mặt và sử dụng tài khoản Ngân hàng Vietinbank số [...] để chuyển 16.000.000 đồng vào tài khoản cho T.
Tại thời điểm trao đổi thông tin mua bán xe thì T nói với L là bán xe vừa “làm được” và cả hai tự hiểu từ “làm” là trộm cắp. Còn lúc T chở L đến bãi xe Chung cư T thì L có hỏi T “Xe này chết ở đâu” thì T trả lời: “Xe chết Thủ Đức” và sau khi đưa tiền xong thì L hỏi: “Xe thay đuôi chưa?” tức là đổi biển số chưa thì T trả lời “Chưa”. Tiến hành cho đối chất giữa L và T thì L chỉ thừa nhận có nghe T nói “Xe vừa làm được”, nhưng L không biết từ “làm” có nghĩa là gì. L phủ nhận việc L có hỏi các câu hỏi “Xe này chết ở đâu” và “Xe thay đuôi chưa”.
Sáng ngày 04/4/2023, Vũ Ngọc L đăng bán các xe mô tô vừa mua của T trên nhóm Messenger mua bán xe Thành phố Hồ Chí Minh. Đến chiều cùng ngày thì có một tài khoản tên “M” nhắn tin mua 04 chiếc mô tô trên với giá 32.000.000 đồng thì L đồng ý bán và hẹn 17 giờ 00 ngày 04/4/2023 gặp nhau tại trước Siêu thị Coopmart đường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Đúng hẹn L và người thanh niên đến tại Siêu thị Coopmart đường P, tại đây L chỉ vị trí 04 chiếc xe, rồi đưa chìa khóa cùng phiếu gửi xe cho thanh niên này và nhận 32.000.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 208-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức, kết luận:
- 01 xe mô tô biển số: 59S3-125.20; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: Vario; Màu sơn: Đen – Đỏ (Số máy: JM51E1204073; Số khung: MH1JM511XKK204271), có trị giá 35.000.000 đồng.
- 01 xe mô tô biển số: 59D2-084.73; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: Vision; Màu sơn: Đen; (Số máy: JF58E0258461; Số khung: RLHJF5802EY258324), có trị giá: 11.500.000 đồng.
- 01 xe mô tô biển số: 59E1-902.57; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: SH MODE; Màu sơn: Đỏ – Đen; (Số máy: JF51E0914667; Số khung: RLHJF5134GZ323367) có trị giá: 49.500.000 đồng.
- 01 xe mô tô biển số: 59S3-125.53; Nhãn hiệu: Honda; Số loại: Sonic; Màu sơn: Đen – Đỏ; (Số máy: KB11E1186156; Số khung: MH1KB1118JK186435), có trị giá: 34.000.000 đồng.
Tổng trị giá các xe mô tô trên tại thời điểm bị chiếm đoạt là 130.000.000 đồng.
Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vairo, biển số: 59S3-125.20 (không thu hồi được);
- 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode, biển số: 59E1-902.57 (không thu hồi được);
- 01 xe mô tô hiệu Honda Soinic, biển số: 59S3-125.53 (không thu hồi được);
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số: 59D2-084.73 (không thu hồi được)
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 224/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 323; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Vũ Ngọc L 05 (năm) năm tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên xử phạt đối với các bị cáo Tăng Chánh T, Hồ Ngọc P, Nguyễn Trường S, Ngô Hoàng T; Tuyên xử lý vật chứng, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, về án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo và các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/6/2024 bị cáo Vũ Ngọc L làm đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và thừa nhận khi mua 04 chiếc xe của bị cáo Tăng Chánh T thì bị cáo biết 04 chiếc xe này do bị cáo T trộm cắp mà có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã mô tả. Do đó, Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên phải nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 5 năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội. Đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không trình lời bào chữa, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo xin Tòa giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo có mẹ già và 02 con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L làm trong hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Lời khai của bị cáo Vũ Ngọc L tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo Tăng Chánh T, bị cáo Hồ Ngọc P và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, nên có đủ căn cứ để xác định: Ngày 04/4/2023, bị cáo Tăng Chánh T cùng bị cáo Hồ Ngọc P đến nhà số C, đường B, khu phố T, phường H, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lấy trộm 04 chiếc xe mô tô, gồm: Chiếc xe biển số 59S3-125.20, chiếc xe mô tô biển số 59D2-084.73, chiếc xe mô tô biển số 59E1-902.57 và chiếc xe mô tô biển số 59S3-125.53 mang đến gửi tại Bãi giữ xe thuộc Cao ốc căn hộ T, số 205 đường N, phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó bị cáo T chụp ảnh 4 chiếc
xe vừa trộm cắp được và đăng lên trang mạng Facebook “Mua bán xe TP. HCM” để rao bán, rồi nhắn tin đến tài khoản Zalo “P” của bị cáo Vũ Ngọc L để trao đổi về việc bán 04 chiếc xe trên. Khoảng 03 giờ 00 ngày 04/4/2023, bị cáo L và 01 thanh niên tên L1 là bạn của L đến tại Bến xe Đ, đường Đ, phường H, quận B gặp bị cáo T và yêu cầu bị cáo T đưa đến nơi gửi xe để xem xe. Sau khi xem xe xong thì bị cáo T, bị cáo P, bị cáo L và L1, mỗi người điều khiển một chiếc đến gửi tại bãi xe của Siêu thị Coopmart, đường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu của bị cáo L và tại đây bị cáo T đã bán 04 xe mô tô trên cho bị cáo L với số tiền là 30.000.000 đồng. Sau khi trả tiền và nhận xe thì bị cáo Vũ Ngọc L đăng bán 04 chiếc xe này trên nhóm Messenger mua bán xe Thành phố Hồ Chí Minh. Đến chiều cùng ngày thì có một tài khoản tên “M” nhắn tin hỏi mua 04 chiếc mô tô trên với giá 32.000.000 đồng thì bị cáo L đồng ý bán. Khoảng 17 giờ ngày 04/4/2023 thì người thanh niên đến Siêu thị Coopmart đường P, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh gặp bị cáo L và tại đây bị cáo L đưa chìa khóa xe, phiếu gửi xe cho người thanh niên này và nhận 32.000.000 đồng. Theo Kết luận định giá tài sản số 208-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 05/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì 04 chiếc xe mô tô trên có giá trị là 130.000.000 đồng.
Bị cáo Vũ Ngọc L không hứa hẹn trước với bị cáo Tăng Chánh T, nhưng quá trình giao dịch mua bán thì bị cáo L biết rõ 04 chiếc xe mô tô trên do bị cáo Tăng Chánh T phạm tội mà có. Nó thể hiện việc mua bán xe giữa bị cáo và Tăng Chánh T không làm hợp đồng theo quy định của pháp luật, 04 chiếc xe trên không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ và qua các từ lóng mà bị cáo L và bị cáo T đã trao đổi khi giao dịch và xác nhận ý nghĩa của các từ lóng này, cụ thể: Xe vừa “Làm được”, tức là trộm được, “Xe này chết ở đâu” tức là trộm ở đâu, “Xe chết Thủ Đức” tức là trộm ở Thủ Đức và “Xe thay đuôi chưa?” tức là đổi biển số chưa, v.v.v... Do đó, cấp sơ thẩm xét xử và kết tội bị cáo Vũ Ngọc L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo tình tiết định khung tăng nặng hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, nó không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước đối với các phương tiện giao thông cá nhân, mà còn tiếp tay cho các đối tượng trộm cắp, cướp và cướp giật tài sản. Bị cáo đã 03 lần bị tòa án xử phạt tù về các tội chiếm đoạt tài sản, trong đó có tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và bị cáo
phạm lại tội này khi chưa được xóa án. Mức án 05 năm tù mà tòa án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đặc điểm về nhân thân của bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, tuy không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận khi mua 04 chiếc xe của bị cáo Tăng Chánh T bán thì bị cáo biết các chiếc xe này do bị cáo T trộm cắp mà có và rất hội hận về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm, nên có căn cứ để cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cấp phúc thẩm sửa bán án sơ thẩm, nhưng trong trường hợp này cấp sơ thẩm không có lỗi.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L được chấp nhận nên bị cáo L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 224/2024/HS-ST, ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc L 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 11/11/2023).
Về án phí:
Bị cáo Vũ Ngọc L không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hậu |
Bản án số 248/2024/HS-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (phúc thẩm)
- Số bản án: 248/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VŨ NGỌC LONG PHẠM TỘI "TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ"
